Lời giới thiệu

Các nước Bắc Âu (trong sách này đề cập đến là Thụy Điển, Đan Mạch, và Na Uy) là các nước không trồng lúa gạo. Do vậy, các nước này phải nhập khẩu hoàn toàn gạo cho tiêu dùng và sản xuất. Trong năm 2020, các nước Bắc Âu nhập khẩu 147.718 tấn gạo, trị giá 186,52 triệu USD, trong đó, kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam đạt 5,8 triệu USD, tương đương với 7.353 tấn, với giá trung bình là 740 USD/tấn.

Hiện nay, Việt Nam chỉ mới xuất khẩu gạo xay xát sang khu vực Bắc Âu. Tuy kim ngạch xuất khẩu chưa phải là nhiều, chỉ chiếm 3,1% thị phần nhập khẩu tại Bắc Âu, nhưng với tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng, trung bình 54%/năm trong giai đoạn 2016-2020.

Trước năm 2019, Thụy Điển hầu như không nhập khẩu gạo Việt Nam. Từ năm 2019, với việc vận động, xúc tiến thương mại mặt hàng gạo của Thương vụ để chuẩn bị đón đầu Hiệp định EVFTA, kim ngạch nhập khẩu gạo của Thụy Điển từ Việt Nam đã có bước tăng trưởng đáng kể, từ vài chục đến hơn 100.000 USD đã lên đến hơn 1 triệu USD năm 2019 và 1,7 triệu USD năm 2020.

Xuất khẩu gạo Việt Nam sang Na Uy cũng tăng mạnh từ 1,8 triệu USD năm 2018 lên hơn 3,7 triệu USD năm 2020.

Nhập khẩu gạo của Đan Mạch từ Việt Nam không tăng trưởng mạnh như thị trường Thụy Điển và Na Uy nhưng cũng ở mức trung bình 8%/năm trong giai đoạn 5 năm 2016-2020, cao hơn mức tăng trưởng nhập khẩu gạo trung bình của thị trường này.

Để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục giữ đà tăng trưởng xuất khẩu cũng như dần có vị trí vững chắc tại thị trường gạo khu vực Bắc Âu, Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển biên soạn cuốn sách “Thị trường gạo Bắc Âu”, trong đó lần lượt giới thiệu tổng quan về thị trường gạo của Bắc Âu, cũng như qui mô, xu hướng, phân khúc thị trường, tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu, các kênh phân phối, các qui định thị trường, thuận lợi, khó khăn, để từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với doanh nghiệp.

Cuốn sách này còn cung cấp danh sách các doanh nghiệp nhập khẩu gạo để tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và xuất khẩu vào thị trường Bắc Âu.

Hy vọng cuốn sách có ích cho doanh nghiệp và bạn đọc.

Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển
Biên soạn: Nguyễn Thị Hoàng Thúy



Tổng quan thị trường

Tổng quan

Phân loại gạo

Gạo là một trong những lương thực thiết yếu của con người. Hơn 40.000 giống lúa được trồng trên toàn thế giới thường được phân thành 4 loại chính: gạo indica, gạo japonica, gạo thơm , và gạo nếp. Hầu hết các giống này thuộc giống lúa châu Á (Oryza sativa), hoặc lúa châu Phi ít được biết đến (Oryza glaberrima).

Gạo đặc sản có thể được định nghĩa là gạo có những đặc tính khác biệt, như có hình dạng hạt, kích thước, màu sắc, thành phần hóa học, hàm lượng dinh dưỡng và đặc tính nấu ăn khác với các loại hạt dài, trung bình hoặc ngắn thông thường. Các loại gạo đặc sản bao gồm : gạo thơm như gạo basmati và gạo jasmine, gạo nếp được sử dụng cho món risotto, sushi hoặc paella và gạo màu. Ngoài ra, lúa hoang (Zizania aquatica), thực chất là một loại hạt cỏ nước, cũng được tiêu thụ.

Phân loại lúa/gạo

Giống lúa châu Á (Oryza sativa)

Indica

· Hạt dài

· Gạo thơm

Japonica (ôn đới hoặc nhiệt đới)

· Hạt vừa

· Hạt ngắn

Gạo thơm

Gạo nếp

Giống lúa châu Phi (Oryza glaberrima)

Lúa hoang (Zizania aquatica)

Lúa hoang hay gạo dại thực chất không phải là gạo mà là hạt của một loại cỏ nước.

Một số loại gạo với nhãn sản phẩm hữu cơ hoặc thương mại công bằng cũng được tính là gạo đặc sản. Khả năng tạo sự khác biệt của gạo là vô tận, mặc dù tiếp thị gạo thuộc thị trường ngách có thể là một thách thức đối với doanh nghiệp.

Ví dụ một số loại gạo

Gạo Basmati

Basmati là một loại gạo thơm, có hạt thon dài. Hương thơm được làm nổi bật bởi quá trình chín của hạt. Gạo Basmati được trồng chủ yếu ở Ấn Độ và Pakistan.

Gạo Jasmine

Jasmine là một loại gạo thơm hạt dài. Hạt hơi dính sau khi nấu. Gạo Jasmine được trồng nhiều ở Đông Nam Á (Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Lào). Hầu hết gạo nhập khẩu của châu Âu bao gồm gạo Jasmine của Thái Lan.

Gạo đen

Màu của gạo đen là do một chất chống oxy hóa mạnh có tên là Anthocyanin. Các giống gạo đen có thể là gạo nếp hoặc gạo thơm. Chúng được trồng ở các vùng khác nhau của châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, và Indonesia.

Gạo đỏ

Các loại gạo đỏ thường được tiêu thụ dưới dạng gạo nguyên hạt hoặc gạo chưa tách vỏ. Lớp cám có màu đỏ đặc trưng thay vì màu nâu. Gạo đỏ có hương vị hấp dẫn. Cả loại Indica và Japonica đều có giống gạo đỏ.

Gạo Arborio

Loại gạo truyền thống cho món Risotto là gạo Arborio, một giống Japonica được sản xuất ở thung lũng Po ở Ý. Gạo Arborio đôi khi được thay thế bằng các loại gạo châu Á rẻ hơn từ gạo ngắn đến trung bình với hàm lượng tinh bột cao.

Gạo Bomba

Món ăn truyền thống của Tây Ban Nha paella sử dụng các loại gạo hạt ngắn được canh tác tại địa phương, chẳng hạn như gạo Bomba hoặc gạo Bahia. Các giống gạo Tây Ban Nha này được trồng ở vùng Calasparra và Valencia được biết là có khả năng hấp thụ chất lỏng rất tốt.

Gạo Kalijira

Gạo Kalijira là một loại gạo thơm hạt trung bình từ Bangladesh và vùng Bengal của Ấn Độ, thường được gọi là "baby basmati" vì có kích thước nhỏ.

Gạo Koshihikari

Một loại gạo Japonica hạt ngắn, được nhiều người coi là loại gạo hạt ngắn tốt nhất ở Nhật Bản.

Gạo Kuthari

Gạo Kuthari hay Matta là một loại gạo đỏ (gạo đồ) từ Kerala, Ấn Độ.

Gạo Mochi

Mochi là một loại gạo nếp đặc biệt được sử dụng cho các món bánh gạo, món tráng miệng và bánh pudding truyền thống của Nhật Bản.

Gạo đỏ Bhutan

Gạo đỏ Bhutan là một loại gạo Japonica đỏ. Đây là loại gạo hạt trung bình được trồng ở Vương quốc Bhutan và không được xay xát kỹ vẫn để lại một số lớp cám đỏ trên gạo.

Gạo Thái đỏ

Gạo đỏ của Thái Lan có thể so sánh với gạo Jasmine nhưng cám có màu đỏ.

Gạo Shahi

Một loại gạo Basmati cao cấp, còn được gọi là gạo hoàng gia.

Gạo dại

Gạo hoang không phải là một gạo thực, mà là một loại cỏ. Hạt dài, mảnh và có màu sẫm. Gạo dại chủ yếu được trồng ở Bắc Mỹ.

Mã HS của gạo

Trong thống kê thương mại của châu Âu nói chung và các nước Bắc Âu nói riêng, các loại gạo khác nhau không được phân biệt. Mã số thương mại chủ yếu dựa trên các sản phẩm gạo chế biến khác nhau: chưa qua chế biến (thóc), gạo lứt (đã tách vỏ trấu), gạo trắng (đã xay xát) và gạo tấm. Trong thương mại gạo đặc sản, gạo đã xay xát là quan trọng nhất.

Với gạo lứt và gạo màu thường còn nguyên lớp cám. Gạo trắng được xay xát, nghĩa là loại bỏ trấu, cám và mầm. Sau khi xay xát, gạo có thể được đánh bóng, tạo ra hạt có bề ngoài sáng, trắng, và bóng. Gạo cũng có thể được đồ. Gạo này được luộc một phần trong vỏ trấu, do đó giữ được hầu hết các chất dinh dưỡng. Gạo đen hoặc tím chủ yếu là gạo nếp, trong khi hầu hết gạo đỏ thuộc loại gạo Indica.

Mã HS của gạo được sử dụng trong thống kê thương mại

1006

Rice

100610

Thóc (bao gồm cả vỏ trấu không ăn được)

100620

Gạo lứt (đã tách vỏ trấu )

100630

Gạo trắng (chưa xay xát kỹ, xay xát toàn bộ, hoặc đã đánh bóng tráng men hoặc không)

100640

Gạo tấm

Hiểu cách phân loại gạo và các sản phẩm liên quan, sẽ giúp xác định mức thuế quan áp dụng và các biện pháp phi thuế quan áp dụng cho sản phẩm của doanh nghiệp.

Phân loại gạo dưới đây áp dụng cho gạo xát, gạo xay và gạo đồ dùng trực tiếp cho người, được trình bày ở dạng đóng gói hoặc không đóng gói, bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Nó cũng áp dụng cho các sản phẩm khác có nguồn gốc từ gạo.

Phân loại gạo theo thuật ngữ được sử dụng :

HS 1006: Mã 1006 được chia thành bốn mã nhỏ:

Mã HS ngoài 1006: HS1006 chỉ bao gồm gạo chưa nấu chín và chưa chế biến. Điều này có nghĩa là các sản phẩm từ quá trình xay xát gạo bị loại trừ và được phân loại trong chương 11.

Nhóm 1006 cũng loại trừ gạo đã được đưa vào xử lý, làm thay đổi đáng kể cấu trúc hạt. Gạo nấu trước bao gồm các loại ngũ cốc đã được nấu chín hoàn toàn hoặc một phần và sau đó rút hết nước được xếp vào nhóm 1904. Gạo nấu trước một phần mất 5 đến 12 phút để chuẩn bị, trong khi gạo nấu chín hoàn toàn chỉ cần ngâm trong nước và đun sôi trước khi dùng. Bỏng gạo thu được từ quá trình trương nở và sẵn sàng để tiêu thụ cũng được xếp vào nhóm 1904.

Phân loại gạo theo kích cỡ hạt

Gạo thường được phân loại theo kích thước của hạt.

Tỷ lệ chiều dài trên chiều rộng của kích thước hạt cũng được tính đến (để tính toán điều này, lấy chiều dài trung bình của hạt chia cho chiều rộng trung bình).

Gạo hạt ngắn (còn được gọi là tròn) gần như tròn, với các hạt ẩm dính vào nhau khi nấu chín và thường được sử dụng để làm bánh gạo và các loại tương tự. Loại gạo này có chiều dài hạt không quá 5,2 mm và tỷ lệ chiều dài/chiều rộng nhỏ hơn 2. Gạo hạt ngắn có nhân ngắn, đầy đặn, gần như tròn.

Gạo hạt trung bình ngắn hơn và đầy đặn hơn và dùng được trong các món ăn như Paella và Risotto. Loại gạo này có chiều dài hạt trên 5,2 mm nhưng không quá 6,0 mm và tỷ lệ chiều dài/chiều rộng nhỏ hơn 3.

Hạt gạo dài , dài và mảnh, các hạt rời nhau sau khi nấu. Loại gạo này, các hạt có chiều dài trên 6,0 mm.

Gạo đã nấu

Gạo đã nấu được phân loại theo nhóm 1904. Sau đây là một số ví dụ về các sản phẩm:

Nếu một bữa ăn làm từ gạo có chứa hơn 20% bất kỳ loại thịt, cá, giáp xác hoặc nhuyễn thể nào (tính theo tỷ lệ phần trăm của toàn món ăn) thì phải được phân loại là thực phẩm chế biến từ thịt hoặc cá trong Chương 16 .

Các loại, giống và dạng gạo

Hiện nay có rất nhiều loại gạo khác nhau, từ gạo hạt dài màu trắng hoặc nâu quen thuộc đến những loại gạo đặc sản như basmati và gạo nếp được sử dụng trong các món ăn Nhật Bản để làm sushi. Gạo cũng được bán trên thị trường dưới nhiều dạng đóng gói tiện lợi. Một số trong số này được liệt kê dưới đây:

Qui mô thị trường

Các nước Bắc Âu tiêu thụ rất ít gạo. Trong các nước Bắc Âu, Thụy Điển tiêu thụ gạo nhiều nhất. Theo thống kê của Tổ chức Lương thực thế giới, tiêu thụ gạo bình quân trên đầu người của Thụy Điển đạt mức thấp nhất là 1,31kg vào năm 1963, và mức cao nhất là 6,22kg vào năm 2008. Mức tiêu thụ hiện nay cũng chỉ vào khoảng 6kg/người/năm. Con số này ở Đan Mạch và Na Uy đều khoảng 5kg/người/năm. Mức tiêu thụ này thấp hơn rất nhiều so với bình quân của thế giới là 54kg.

Các nước Bắc Âu nhập khẩu 147.718 tấn, tái xuất đi các nước khác 9.714 tấn, còn lại tiêu thụ trong nước khoảng 138.000 tấn, theo số liệu năm 2020.

Do vậy có thể nói qui mô thị trường gạo khu vực Bắc Âu khá nhỏ.

Xu hướng thị trường

Nhập khẩu gạo dự kiến sẽ tăng

Châu Âu không tự túc được hoàn toàn gạo. Khoảng 60% nhu cầu được đáp ứng bởi sản xuất trong khu vực, khiến nhu cầu nhập khẩu 1,8 triệu tấn gạo xay xát. Triển vọng Nông nghiệp của EU 2020-2030 dự kiến nhu cầu gạo nhập khẩu sẽ tăng cho đến năm 2030. Trong thập kỷ tới, nhập khẩu sẽ tăng khoảng 250.000 tấn.

Các nước Bắc Âu là các nước không trồng lúa gạo do vậy, các nước này gần như nhập khẩu hoàn toàn. Trong năm 2020, các nước Bắc Âu nhập khẩu 147.718 tấn gạo, trị giá 186,52 triệu USD, trong đó nhập khẩu từ các nước trong nội khối EU khoảng 99 triệu USD, chiếm khoảng 53% tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước này.

Nhu cầu gạo Indica nhiều nhất

Châu Âu chủ yếu sản xuất gạo Japonica (khoảng 75%), hầu hết được sản xuất và tiêu thụ ở Nam Âu. Châu Âu là nước xuất khẩu ròng gạo Japonica. Tuy nhiên, ở khu vực Bắc Âu, giống truyền thống châu Á Indica phổ biến hơn, ví dụ các loại gạo hạt dài và gạo thơm như Bastima và Jasmine.

Gạo xay xát là mặt hàng nhập khẩu chính

Gạo xát (trắng) và gạo xát vỏ (nâu) là những loại gạo quan trọng nhất để nhập khẩu vào Bắc Âu, kể cả khi nói đến các loại gạo đặc sản. Gạo xay xát có ưu điểm là nhẹ hơn, thuận tiện cho việc vận chuyển và ít bị nấm, mốc. Xay xát, hoặc loại bỏ cám, có thể là một quá trình gia tăng giá trị được thực hiện ở nước xuất xứ.

Các nước Bắc Âu chủ yếu nhập khẩu gạo xay xát. Vào năm 2020, tổng kim ngạch nhập khẩu gạo xay xát của các nước Bắc Âu là 159,11 triệu USD, chiếm 85,3% tổng kim ngạch nhập khẩu gạo của các nước này.

Gạo tấm là sản phẩm phụ của quá trình chế biến gạo. Nhiều người tiêu dùng Bắc Âu coi gạo tấm là gạo cấp thấp hơn, nhưng người tiêu dùng truyền thống hoặc châu Á đánh giá cao hơn vì đây là một loại gạo có giá cả phải chăng với đặc tính hấp thụ hương vị và nấu nhanh. Gạo tấm (không phải gạo đặc sản) cũng được sử dụng cho các sản phẩm được chế biến tiếp, chẳng hạn như ngũ cốc ăn sáng, thức ăn cho chăn nuôi, bia, tinh bột và bột mì. Gạo chưa qua chế biến (còn trấu) không được ưa chuộng trong thương mại.

Nhập khẩu gạo đặc sản từ các nước ngoài châu Âu ngày càng tăng

Các sản phẩm đặc biệt hấp dẫn đối với thị trường châu Âu nói chung và Bắc Âu nói riêng là gạo Ấn độ hạt dài đã xát hoặc xay, chẳng hạn như gạo Basmati.

Tăng cường giao thương với các nước đang phát triển

Gạo Indica là một mặt hàng điển hình có nguồn gốc ở các nước đang phát triển. Các loại gạo thơm và gạo màu thường không được sản xuất ở châu Âu và được nhập khẩu chủ yếu từ các nước châu Á. Việc nhập khẩu từ các nhà cung cấp ngoài châu Âu ngày càng tăng do nhu cầu về các loại gạo này ngày càng tăng. Các điều kiện thương mại thuận lợi giúp duy trì đà tăng trưởng này.

6. Basmati là loại gạo đặc sản phổ biến nhất

Loại gạo đặc sản phổ biến nhất là basmati. Loại gạo thơm này đã trở nên phổ biến đối với rất nhiều người tiêu dùng châu Âu. Phần lớn lượng gạo lứt nhập khẩu và tăng trưởng nhập khẩu là từ các giống basmati. Basmati chất lượng cao có thể được bảo quản và ủ để có hương vị thơm ngon hơn trước khi bán ra thị trường.

Nhãn mác có thể tăng thêm giá trị của sản phẩm

Một cách khác để tạo sự khác biệt với các nhà cung cấp khác là thêm nhãn sản phẩm. Các nhãn như hữu cơ và thương mại công bằng dễ nhận biết đối với người tiêu dùng và có thể tăng thêm giá trị cho sản phẩm.

Các nhà kinh doanh gạo vẫn coi gạo hữu cơ là phù hợp hơn gạo bền vững. Nhưng gần đây, Quy chuẩn canh tác lúa gạo bền vững (SRP) đã trở thành nhãn hiệu bền vững đầu tiên cho gạo trong ngành bán lẻ châu Âu. Những người áp dụng đầu tiên bao gồm LT Foods ở Ấn Độ và một nhóm các trang trại trồng lúa mà Quy chuẩn canh tác lúa gạo bền vững đã xác minh. SRP được hy vọng sẽ trở thành một tiêu chuẩn và nhãn hiệu mạnh hơn cho gạo trong tương lai.

Cơ hội cho gạo hữu cơ và thương mại công bằng cũng đang tăng lên do người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến thực phẩm lành mạnh và bền vững.

Từ thực phẩm dân tộc đến một thị trường chính thống đa dạng

Các loại gạo đặc sản như gạo thơm basmati và jasmine, gạo risotto và gạo paella, và ở một mức độ nào đó là gạo màu, hiện được mua bán thông qua các kênh chính thống. Mức tiêu thụ của các giống cụ thể cao nhất ở các thị trường dân tộc (ví dụ gạo Việt Nam thường hay được bán ở cửa hàng thực phẩm Á châu, hoặc cửa hàng thực phẩm Việt Nam).

Ricepedia cho rằng gạo đặc sản như các loại gạo thơm đã được giới thiệu với sự xuất hiện của một số lượng lớn người nhập cư từ Đông Nam Á và đã được công chúng phân biệt và sử dụng như một loại thực phẩm chính và dành cho người sành ăn trong vài năm qua. Với sự hội nhập ngày càng tăng của các quốc gia khác nhau, người tiêu dùng châu Âu nói chung và Bắc Âu ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với các thực phẩm xuyên quốc gia.

Gạo lứt và hữu cơ là một phần của chế độ ăn uống lành mạnh

Người tiêu dùng ở Bắc Âu ngày càng nhận thức được sự cần thiết của một chế độ ăn uống lành mạnh. Gạo hữu cơ và gạo lứt, bao gồm cả một số loại gạo đặc sản, có thể là một lựa chọn lành mạnh cho những người tiêu dùng muốn cải thiện chế độ ăn của họ.

Gạo lứt được tiêu thụ khắp Bắc Âu ngày càng nhiều, như một sự thay thế lành mạnh hơn cho gạo trắng, vì cám gạo có chứa các khoáng chất, vitamin và chất xơ quan trọng. Kim ngạch nhập khẩu gạo lứt chỉ đứng sau gạo xay xát, với kim ngạch nhập khẩu năm 2020 là 24,02 triệu USD, tuy chưa nhiều nhưng có tốc độ tăng trưởng trung bình 15% về giá trị, và 9,3% về lượng/năm trong giai đoạn 2016-2020.

Hầu hết các nước EU xác nhận tầm quan trọng của việc tiêu thụ ngũ cốc nguyên hạt hoặc có các hướng dẫn về chế độ ăn uống. Thụy Điển và Đan Mạch là các nước có lượng ngũ cốc nguyên hạt cao nhất trên toàn châu Âu, bao gồm cả gạo lứt, chỉ đứng sau Đức và Hà Lan, với lượng tiêu thụ trung bình theo ngày lần lượt là 79g và 73g.

Gạo đen (giàu chất chống oxy hóa, vitamin E và sắt) và gạo đỏ (giàu chất xơ và chất chống oxy hóa) nằm trong số những loại gạo xay xát được tiêu thụ. Lúa dại là một giống lúa có hàm lượng protein tương đối cao. Gạo đồ cũng có sẵn dưới dạng gạo ăn liền và để cải thiện việc bảo quản vitamin.

Trong phân khúc thực phẩm tốt cho sức khỏe, trọng tâm chính là các sản phẩm tinh khiết và không có thuốc trừ sâu. Điều này thường có nghĩa là đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao hơn so với các quy định pháp luật. Dư lượng thuốc trừ sâu là lý do chính để người tiêu dùng mua gạo hữu cơ. Gạo hữu cơ đang ngày càng tăng thị phần. Theo báo cáo FiBL & IFOAM Thế giới Nông nghiệp Hữu cơ, Liên minh Châu Âu đã nhập khẩu 256.000 tấn gạo hữu cơ trong năm 2018, có nghĩa là 10,9% lượng gạo nhập khẩu được chứng nhận hữu cơ.

Tính bền vững trong sản xuất lúa gạo sẽ trở thành tiêu chuẩn trong tương lai

Ngày càng có nhiều sự quan tâm vào sản xuất lúa gạo bền vững. Một số doanh nghiệp trong ngành hỗ trợ hoặc tham gia vào các hoạt động để sản xuất lúa gạo bền vững hơn. Gạo có cơ hội được chấp nhận ở châu Âu cao hơn nếu được trồng một cách bền vững. Tuy nhiên, theo một số nguồn trong ngành, gạo hữu cơ (cũng được coi là bền vững) đang cho thấy sự phát triển mạnh mẽ hơn so với gạo bền vững.

Lúa gạo là một trong những cây lương thực chính của thế giới, nhưng nó cũng tạo ra 10 đến 12% lượng khí mê-tan toàn cầu do các hoạt động của con người và có tác động đáng kể đến việc sử dụng nước. Việc trồng lúa có tưới sử dụng 30 - 40% lượng nước ngọt của thế giới. Để canh tác lúa bền vững hơn, cần có các phương pháp sản xuất mới hoặc khác, chẳng hạn như nông nghiệp tái sinh và 'hệ thống thâm canh lúa' (SRI).

Các tổ chức quốc tế và các công ty tư nhân đã hợp lực trong Quy chuẩn canh tác lúa gạo bền vững (SRP) để chuyển đổi ngành lúa gạo toàn cầu bằng cách cải thiện sinh kế nông hộ nhỏ và giảm tác động xã hội, môi trường và khí hậu của sản xuất lúa gạo, cung cấp cho thị trường gạo toàn cầu một nguồn sản xuất gạo bền vững. Cùng với các nhà lãnh đạo trong ngành, SRP đã giới thiệu Tiêu chuẩn tự nguyện đầu tiên trên thế giới về canh tác lúa bền vững. Tính bền vững trong sản xuất lúa gạo sẽ trở thành tiêu chuẩn trong tương lai.

Một trong những người sáng lập SRP, nhà cung cấp dịch vụ của Đức trong lĩnh vực hợp tác quốc tế vì sự phát triển bền vững (GIZ), đã thành lập Cụm Nông nghiệp và Thực phẩm tại Thái Lan. Cụm công ty này hoạt động cùng với một số công ty gạo hàng đầu như Ebro, Mars Food và Olam. Nó nhằm mục đích tăng cường sức mạnh cho nông dân với các dự án và đào tạo về sản xuất lúa gạo bền vững, chẳng hạn như Sáng kiến ​​lúa thơm bền vững (SARI).

Olam International đã giới thiệu AtSource để đo lường tính bền vững và thể hiện tác động xã hội và môi trường trong chuỗi cung ứng nông sản. Trong một dự án nhằm cắt giảm lượng khí thải carbon của cây lúa ở Thái Lan, hơn 12.000 nông dân trồng lúa đã được đào tạo về các nguyên tắc của Quy chuẩn canh tác lúa gạo bền vững (SRP).

Thị trường mới nổi cho gạo thương mại công bằng

Quy mô thị trường gạo và số lượng nông dân tham gia làm cho gạo trở thành sản phẩm thích hợp cho thương mại công bằng. Có một thị trường mới nổi cho gạo có trách nhiệm, mặc dù nó vẫn là một thị trường rất nhỏ do một vài thương hiệu và tổ chức thương mại công bằng quản lý.

Sản lượng gạo thương mại công bằng của Fair Trade International lên tới 55.316 tấn vào năm 2019. Vì vậy, nó rất nhỏ so với tổng nhu cầu về gạo ở châu Âu, hoặc thậm chí so với mức tiêu thụ gạo jasmine và basmati. Nó nhắm đến một loại công chúng khác có ý thức và tham gia vào xã hội, nhưng nó có tiềm năng trở thành một tiêu chuẩn mới giống như đối với cà phê và cacao.

Thương mại công bằng cũng tạo cơ hội cho các nước sản xuất bị các nhà kinh doanh gạo bỏ qua. Ví dụ, Hiệp hội Nông dân Tiểu điền Kaporo (KASFA) ở Malawi có thể bán loại gạo Kilombero thơm hảo hạng với sự trợ giúp của tổ chức thương mại công bằng JTS (Just Trading Scotland).

Kể chuyện rất quan trọng đối với gạo thương mại công bằng. Cần thể hiện một chuỗi cung ứng minh bạch và tìm các công ty hoặc tổ chức chuyên về thương mại công bằng và có thể giúp chia sẻ câu chuyện của bạn ở châu Âu nói chung cũng như ở Bắc Âu nói riêng.

Phân khúc thị trường

Các nước Bắc Âu chủ yếu nhập khẩu gạo xay xát, gạo lứt. Gạo tấm và thóc cũng được nhập khẩu nhưng không đáng kể và lượng nhập khẩu ngày càng giảm.

Phân khúc thị trường theo loại gạo

HS

Mặt hàng

Kim ngạch nhập khẩu năm 2020

(ngàn USD)

Tăng trưởng về giá trị (2016-20) (%)

Tăng trưởng về lượng (2016-20) (%)

100630

Gạo xay xát

159.112

8,7

4,7

100620

Gạo lứt

24.021

15,0

9,3

100640

Gạo tấm

2.299

-11

-11,3

100610

Gạo đồ

1.089

-22,7

-31,7

Phân khúc thị trường nhập khẩu các loại gạo năm 2020 của các nước Bắc Âu

Tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu

Tình hình sản xuất

Các nước Bắc Âu có khí hậu ôn đới với sự chênh lệch lớn giữa mùa hè và mùa đông. Diện tích đất phần lớn được bao phủ bởi rừng, múi, đất ngập nước, và hồ. Đất canh tác ở khu vực Bắc Âu không nhiều, chủ yếu năm ở miền Nam, có khí hậu ấm hơn.

Do đó, các nước này chủ yếu dựa vào lương thực nhập khẩu để phục vụ thị trường nội địa. Theo Eurostat, không có số liệu về sản lượng gạo ở các nước Bắc Âu do các nước này không trồng lúa gạo, chỉ có vài nhà máy xay xát.

Ở Thụy Điển, có ngành công nghiệp xay xát gạo, nhưng công suất sản xuất tối đa chỉ đạt 84.000 tấn hàng năm. 95% lượng gạo chế biến trong nước được xuất khẩu sang các nước EU khác. Hai doanh nghiệp Thụy Điển có hoạt động sản xuất gạo là Svensk Risimport AB và Swedish Fine Rice & Food AB.

Svensk Risimport AB nhập khẩu rồi xử lý và đóng gói nguyên liệu thô. Nhà máy có có diện tích làm việc là 3.700m2 và sức chứa lên đến 5.000MT, tương ứng với 4.200 pallet. Hoạt động trong lĩnh vực gạo hơn 30 năm, doanh nghiệp này nhập khẩu và cung cấp ít nhất 25 loại gạo.

Swedish Fine Rice & Food AB có nhà máy xay xát và đánh bóng gạo. Doanh nghiệp thành lập từ năm 1988 tại Eskilstuna. Tuy nhiên, hiện nay, doanh nghiệp mở rộng sang các lĩnh vực thực phẩm khác không chỉ có gạo.

Ở Đan Mạch, doanh nghiệp có hoạt động xay xát gạo duy nhất là Nordic Food Partners (NFP), được thành lập từ năm 2001. Trong một số năm, Nordic Food Partners hoạt động như một công ty kinh doanh các sản phẩm thực phẩm trên thị trường Bắc Âu. Vào năm 2008, NFP đã phát triển quy mô lớn sang lĩnh vực kinh doanh thực phẩm hữu cơ và cộng tác với tập đoàn bán lẻ lớn Dansk Supermarked, giới thiệu một loạt nhãn riêng liên quan đến gạo hữu cơ. Trong năm 2014, NFP đã thành lập nhà máy xay xát gạo và cho đến nay vẫn là nhà máy xay xát gạo duy nhất ở Đan Mạch và cũng là nhà máy xay xát chuyên 100% gạo hữu cơ duy nhất tại châu Âu.

Hiện này, do nhu cầu cấp bách về gạo có hàm lượng arsen thấp trên thị trường toàn cầu, đặc biệt là tiêu dùng cho trẻ nhỏ. Đất ở Uppsala, Thụy Điển, chứa hàm lượng asen (As) thấp. Do vậy, Thụy Điển đang nghiên cứu giống lúa japonica có thể thích nghi với khí hậu lạnh và thời gian dài ngày ở Uppsala để sản xuất gạo hữu cơ có hàm lượng asen thấp và an toàn. Một giống lúa gạo japonica, “Heijing 5,” có nồng độ thấp 0,1 mg mỗi kg và hàm lượng protein cao 12,6% đang được thử nghiệm. Về mặt lý thuyết, “Heijing 5”. Ngoài ra, Thụy Điển cũng đang nghiên cứu trồng lúa nước có thể loại bỏ nitơ và phốt pho từ nước sông Thụy Điển.

Tình hình xuất khẩu

Thụy Điển

Năm 2020, Thụy Điển xuất khẩu 2,86 triệu USD gạo, đứng thứ 69 trong các nước xuất khẩu gạo trên thế giới.

Về lượng, Thụy Điển xuất khẩu 1.394 tấn gạo, gồm 4 loại dưới đây, nhưng khoảng 95% là gạo xay xát:

Trong giai đoạn 2016-2020, xuất khẩu gạo của Thụy Điển đã giảm trung bình 6% về lượng và 7% về giá trị/năm.

10 nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Thụy Điển năm 2020

Đơn vị tính: ngàn USD

Thụy Điển xuất khẩu gạo chủ yếu sang các nước láng giềng xung quanh, như Đan Mạch (1,16 triệu USD, 40,5% thị phần), Phần Lan (1,02 triệu USD, 35,4% thị phần), Na Uy (0,22 triệu USD, 7,7% thị phần), Ba Lan (0,17 triệu USD, 5,9% thị phần), và Latvia (0,10 triệu USD, 3,6% thị phần).

Tăng trưởng thị phần xuất khẩu nhiều nhất trong giai đoạn 2016-2020 là Ý (48%), Đức (27%), và Đan Mạch (24%).

Giá gạo xuất khẩu trung bình năm 2020 là 2.055 USD/tấn.

Đan Mạch

Năm 2020, Đan Mạch xuất khẩu 11,14 triệu USD gạo, đứng thứ 51 trong các nước xuất khẩu gạo trên thế giới.

Về lượng, Đan Mạch xuất khẩu 8.043 tấn gạo, gồm 4 loại dưới đây, nhưng khoảng 89% là gạo xay xát:

Trong giai đoạn 2016-2020, xuất khẩu gạo của Đan Mạch đã tăng trung bình 2% về lượng và 4% về giá trị/năm.

10 nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Đan Mạch năm 2020

Đơn vị tính: ngàn USD

Đan Mạch xuất khẩu gạo chủ yếu sang châu Âu, như Thụy Điển (5,21 triệu USD, 46,7% thị phần), Bỉ (1,29 triệu USD, 11,5% thị phần), Anh (1 triệu USD, 9% thị phần), Greenland (0,52 triệu USD, 4,7% thị phần), và Pháp (0,51 triệu USD, 4,6% thị phần).

Tăng trưởng thị phần xuất khẩu nhiều nhất trong giai đoạn 2016-2020 là Thổ Nhĩ Kỳ (109%), Anh (83%), và Bỉ (58%).

Giá gạo xuất khẩu trung bình năm 2020 là 1.386 USD/tấn.

Na Uy

Năm 2020, Na Uy xuất khẩu 297.000 USD gạo, đứng thứ 127 trong các nước xuất khẩu gạo trên thế giới.

Về lượng, Na Uy xuất khẩu 277 tấn gạo và toàn bộ là gạo xay xát.

Trong giai đoạn 2016-2020, xuất khẩu gạo của Na Uy đã tăng trung bình 18% về lượng và 6% về giá trị/năm

Các nước nhập khẩu gạo của Na Uy năm 2020

Đơn vị tính: ngàn USD

Na Uy xuất khẩu gạo chủ yếu sang Thụy Điển (119.000 USD, 40,1% thị phần), Pháp (75.000 USD, 25,3% thị phần), Phần Lan (53.000 USD, 17,8% thị phần), Iraq (29.000 USD, 9,8% thị phần), và Pakistan (14.000 USD, 4,7% thị phần).

Tăng trưởng thị phần xuất khẩu nhiều nhất trong giai đoạn 2016-2020 là Pháp (109%), Phần Lan (19%), và Thụy Điển (13%).

Giá gạo xuất khẩu trung bình năm 2020 là 1.072 USD/tấn.

Tình hình nhập khẩu

Các nước Bắc Âu là các nước không trồng lúa gạo do vậy, hầu như các nước này nhập khẩu hoàn toàn. Trong năm 2020, các nước Bắc Âu nhập khẩu 147.718 tấn gạo, trị giá 186,52 triệu USD, trong đó nhập khẩu từ các nước trong nội khối EU khoảng 99 triệu USD, chiếm khoảng 53% tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước này.

Các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, và Na Uy) nhập khẩu 147.718 tấn, tái xuất đi các nước khác 9.714 tấn, còn lại tiêu thụ trong nước khoảng 138.000 tấn, theo số liệu năm 2020.

Kim ngạch nhập khẩu theo chủng loại gạo của từng nước Bắc Âu được thể hiện trong bảng kim ngạch nhập khẩu gạo từ năm 2016-2020 như dưới đây:

Kim ngạch nhập khẩu gạo của các nước Bắc Âu giai đoạn 2016-2020

Đơn vị tính: nghìn USD
Nguồn: ITC

HS

Chủng loại

NK2016

NK2017

NK2018

NK2019

NK2020

100630

Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng

117.817

119.311

132.801

151.968

159.439

100620

Gạo lứt

16.410

16.242

17.465

17.993

24.069

100640

Tấm

3.769

2.260

2.732

2.026

2.305

100610

Thóc

3.700

878

877

601

1.092

Kim ngạch nhập khẩu gạo của các nước Bắc Âu theo chủng loại 2016-2020

Đơn vị tính: nghìn USD

Các nước Bắc Âu nhập khẩu gạo không nhiều nhưng là thị trường có mức tăng trưởng ổn định trong 5 năm qua (tăng trưởng trung bình 7,7%/năm về giá trị và 2,7%/năm về lượng).

Về thị hiếu tiêu dùng, gạo không phải là lương thực truyền thống của người Bắc Âu. Nếu dùng gạo, người Bắc Âu ưa chuộng loại gạo dài, không dính như gạo basmati vì họ quan niệm gạo dài có vị béo ngậy hơn gạo dính. Gạo trung bình và gạo ngắn chủ yếu nhập khẩu để phục vụ cộng đồng người Á châu.

Thụy Điển

Năm 2020, Thụy Điển nhập khẩu 97,88 triệu USD gạo, tương đương với 72.764 tấn.

Trong giai đoạn 2016-2020, nhập khẩu gạo của Thụy Điển đã tăng trung bình 3% về lượng và 10% về giá trị/năm.

Thụy Điển nhập gạo chủ yếu từ Pakistan (12,53 triệu USD, 12,8% thị phần), Ý (12,29 triệu USD, 12,6% thị phần), Thái Lan (12,18 triệu USD, 12,4% thị phần), Bỉ (11,96 triệu USD, 12,2% thị phần), và Hà Lan (11,62 triệu USD, 11,9% thị phần).

Kim ngạch nhập khẩu gạo của Thụy Điển giai đoạn 2016-2020

Đơn vị tính: nghìn USD
Nguồn: ITC

HS

Chủng loại

NK2016

NK2017

NK2018

NK2019

NK2020

100630

Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng

61.721

61.302

70.127

83.163

83.422

100620

Gạo lứt

6.989

6.104

6.298

9.042

12.289

100640

Tấm

1.549

1.478

1.461

1.338

1.416

100610

Thóc

1.031

522

749

408

754

Thị phần 10 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất sang Thụy Điển

Đơn vị tính: nghìn USD

Tăng trưởng thị phần nhiều nhất trong giai đoạn 2016-2020 là Việt Nam (132%), Pakistan (37%), và Hà Lan (28%).

Giá gạo nhập khẩu trung bình năm 2020 là 1.345 USD/tấn.

Đan Mạch

Năm 2020, Đan Mạch nhập khẩu 47,58 triệu USD gạo, tương đương với 43.740 tấn.

Trong giai đoạn 2016-2020, nhập khẩu gạo của Đan Mạch không tăng về lượng mà tăng trung bình 5% về giá trị/năm.

Đan Mạch nhập gạo chủ yếu từ Ý (8,86 triệu USD, 18,6% thị phần), Ba Lan (7,98 triệu USD, 16,8% thị phần), Đức (6,46 triệu USD, 13,6% thị phần), Pakistan (5,64 triệu USD, 11,8% thị phần), và Campuchia (3,9 triệu USD, 8,2% thị phần).

Kim ngạch nhập khẩu gạo của Đan Mạch giai đoạn 2016-2020

Đơn vị tính: nghìn USD

Kim ngạch nhập khẩu gạo của Đan Mạch giai đoạn 2016-2020

Đơn vị tính: nghìn USD
Nguồn: ITC

HS

Chủng loại

NK2016

NK2017

NK2018

NK2019

NK2020

100630

Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng

26.606

29.436

31.488

35.360

36.795

100620

Gạo lứt

8.982

9.271

10.005

8.061

10.245

100640

Tấm

1.619

449

399

316

368

100610

Thóc

2.427

89

124

141

175

Thị phần 10 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất sang Đan Mạch năm 2020 (%)

Đơn vị tính: nghìn USD

Tăng trưởng thị phần nhiều nhất trong giai đoạn 2016-2020 là Anh (49%), Thụy Điển (32%), và Hà Lan (23%).

Giá gạo nhập khẩu trung bình năm 2020 là 1.088 USD/tấn.

Na Uy

Năm 2020, Na Uy nhập khẩu 41,06 triệu USD gạo, tương đương với 32.214 tấn.

Trong giai đoạn 2016-2020, nhập khẩu gạo của Na Uy tăng trung bình 5% về lượng và 8% về giá trị/năm.

Na Uy nhập gạo chủ yếu từ Thái Lan (15,74 triệu USD, 38,3% thị phần), Pakistan (5,02 triệu USD, 12,2% thị phần), Ý (4,64 triệu USD, 11,3% thị phần), Ấn Độ (3,96 triệu USD, 9,7% thị phần), và Việt Nam (3,73 triệu USD, 9,1% thị phần).

Kim ngạch nhập khẩu gạo của Na Uy giai đoạn 2017-2021

Đơn vị tính: nghìn USD
Nguồn: ITC

HS

Chủng loại

NK201 7

NK201 8

NK20 19

NK202 0

NK20 21

100630

Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng

28.520

31.049

33.444

38.895

33.020

100620

Gạo lứt

867

1.182

890

1.487

1.683

100640

Tấm

333

873

372

515

576

100610

Thóc

267

61

52

160

159

Thị phần 10 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất sang Na Uy năm 2020 (%)

Đơn vị tính: nghìn USD

Tăng trưởng thị phần nhiều nhất trong giai đoạn 2016-2020 là Hà Lan (103%), Pakistan (35%), và Việt Nam (20%).

Giá gạo nhập khẩu trung bình năm 2020 là 1.275 USD/tấn.

Giá cả

Giá gạo không đồng nhất so với giá của nhiều loại cây trồng khác do có nhiều loại gạo, phẩm chất và thành phẩm. Ngoài ra, giá gạo, bao gồm cả gạo đặc sản, phụ thuộc chủ yếu vào triển vọng sản xuất toàn cầu và tình trạng sẵn có, trong khi các chính sách thương mại ảnh hưởng đến giá gạo cuối cùng tại điểm đến.

Giá gạo đặc sản thường cao hơn gạo trắng thông thường. Giá thị trường của gạo basmati có thể cao hơn gấp hai hoặc ba lần so với gạo lai năng suất cao, và giá của loại gạo jasmine chất lượng thường cao gấp đôi so với các giống khác. Ví dụ, một loại gạo số lượng lớn lai được bán với giá khoảng 350€/tấn trong khi basmati được bán trên thị trường quốc tế với giá hơn 900€/tấn. Điều đó không tự nhiên có nghĩa là người nông dân sẽ kiếm được lợi nhuận cao hơn, bởi vì năng suất lúa basmati thấp hơn và lao động chân tay nhiều hơn. Nhưng một loại gạo đặc sản sẽ giúp tham gia vào một thị trường cao cấp hoặc thị trường ngách mà các quốc gia sản xuất ít hơn có thể cạnh tranh.

Chi phí và tỷ suất lợi nhuận trong thương mại gạo khác nhau tùy theo quốc gia, giống và chất lượng.

Ví dụ về cấu trúc giá gạo từ nhập khẩu đến tiêu dùng:

Giá đến cảng: 100

Lợi nhuận của nhà nhập khẩu/bán buôn: +17

Giá bán buôn: 117

Lợi nhuận của nhà bán lẻ: +60

Giá bán lẻ chưa kể VAT: 177

Thuế VAT: 21.24

Giá bán lẻ bao gồm cả VAT: 198.24

(Nguồn: Phòng Thương mại Thụy Điển)

Năm 2022, dự kiến ​​giá bán gạo Thụy Điển khoảng 1,77-1,87 USD/kg hay giá trung bình theo tấn là 1.870,14 USD tại hai thành phố lớn nhất Thụy Điển là Gothenburg và Stockholm.

Kênh phân phối

Kênh phân phối từ sản xuất đến tiêu dùng gạo ở Bắc Âu

Một số kênh phân phối gạo chính ở Bắc Âu

Nhà nhập khẩu hoặc thương nhân

Các công ty nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm tra chất lượng và các thông số kỹ thuật an toàn thực phẩm của gạo, cũng như trong việc phân phối cho người tiêu dùng và người bán lại nhỏ hơn. Hầu hết các nhà nhập khẩu có mối quan hệ tốt tại các nước sản xuất và có thể thực hiện các hoạt động xay xát và đóng gói. Hầu hết thị trường gạo được cung cấp bởi một số lượng tương đối nhỏ các thương nhân và nhà nhập khẩu, nhưng thị trường gạo đặc sản bao gồm nhiều người chơi hơn thị trường gạo thông thường.

Các nhà nhập khẩu gạo rất đa dạng. Một số nhà xay xát và thương hiệu gạo tự tổ chức việc nhập khẩu, đôi khi thông qua các nhà môi giới. Đôi khi các nhà nhập khẩu cũng chính là các công ty thương mại, tự nhập khẩu và phân phối trong cửa hàng bán lẻ của mình.

Người môi giới

Một lượng lớn gạo được bán thông qua các công ty môi giới. Đóng vai trò trung gian giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.

Không giống như các nhà nhập khẩu, họ không trở thành chủ sở hữu của sản phẩm; thay vào đó, họ nhận hoa hồng khi bán gạo cho khách hàng.

Các nhà môi giới thường là các cá nhân hoặc công ty nhỏ. Mặc dù quy mô nhỏ, các nhà môi giới có thể chuyển nhượng một lượng gạo đáng kể. Họ chủ yếu tập trung vào nhu cầu số lượng lớn và gạo đặc sản có nhu cầu cao, nhưng với mạng lưới đủ rộng, họ có thể kinh doanh các loại cụ thể hơn hoặc thương mại công bằng và gạo hữu cơ.

Một giải pháp thay thế có thể sử dụng ngay bây giờ hoặc trong tương lai để tìm kiếm thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán gạo là các nền tảng như Rice Exchange, một thị trường kỹ thuật số toàn cầu. Rice Exchange nhằm tạo ra một sự tin cậy, giảm rủi ro và chi phí thấp hơn cho người mua và người bán thông qua công nghệ blockchain.

Thương hiệu và nhà xay xát gạo

Nhà xay xát gạo thường đồng thời là chủ thương hiệu gạo và ngược lại. Nhìn chung, các thương hiệu và nhà xay xát gạo cần có một chuỗi cung ứng đáng tin cậy và ổn định, do đó họ thường làm việc với các hợp đồng trung hoặc dài hạn. Tìm nguồn cung ứng gạo không phải là hoạt động kinh doanh cốt lõi của một số công ty này nên họ sử dụng dịch vụ của các công ty nhập khẩu hoặc công ty môi giới.

Ngành xay xát gạo ở Bắc Âu không lớn dù ngành công nghiệp này được bảo hộ bởi mức thuế nhập khẩu cao hơn đối với gạo đã xay xát và đánh bóng. Khi nguồn cung nước ngoài giảm, thuế quan có thể giảm và khiến các nhà sản xuất gạo nước ngoài cung cấp dịch vụ xay xát trở nên hấp dẫn hơn.

Gạo được nhập khẩu từ các nước phát triển, sau đó được chế biến và đóng gói tại các nước Bắc Âu trước khi đưa ra thị trường bán lẻ cho người tiêu dùng. Trong 3 nước Bắc Âu, chỉ có Thụy Điển và Đan Mạch có nhà máy chế biến gạo.

Một số công ty có mối liên hệ chặt chẽ hơn với phân khúc thực phẩm dân tộc, tập trung vào các loại gạo cụ thể hơn nhằm đáp ứng nhu cầu về hương vị truyền thống. Ví dụ, gạo Nếp cái hoa vàng hay gạo nếp men xay của Việt Nam để phục vụ cho người tiêu dùng Việt Nam tại khu vực Bắc Âu.

Người bán buôn và nhà nhập khẩu thương hiệu gạo

Kênh dịch vụ ăn uống và cửa hàng dân tộc là phân khúc mạnh của gạo đặc sản và thường được cung cấp bởi các công ty bán buôn. Một số công ty bán buôn nhập khẩu và bán lại các nhãn hiệu gạo khác nhau, điều này khiến họ trở thành một kênh thích hợp cho các nhà cung cấp gạo đóng gói sẵn nước ngoài.

Đối với các nhà cung cấp gạo đặc sản, tốt nhất là nên thiết lập quan hệ đối tác vững chắc và tránh buôn bán gạo với số lượng lớn. Các nhà nhập khẩu, nhà xay xát và môi giới gạo có thể hữu ích khi nói đến khối lượng lớn hơn, nhưng việc bán gạo đặc sản cần có một mạng lưới tốt.

Nhìn chung, thị trường gạo đặc sản còn nhỏ và việc giới thiệu một sản phẩm gạo mới cần nhiều thời gian. Để tạo sự khác biệt cho sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh hoặc để đạt được sự ổn định với một sản phẩm thích hợp thực sự, cần phải tìm các đối tác phù hợp để đại diện cho sản phẩm của mình.

Chất lượng nhất quán là chìa khóa. Nếu sản xuất gạo với kích thước hạt cụ thể, mùi thơm hoặc đặc tính khác, cần phải có một quy trình sản xuất đáng tin cậy và được quản lý tốt để đảm bảo mức chất lượng nhất quán. Nếu giống lúa và đặc tính sản phẩm không thể dễ dàng (tái sản xuất) ở một nơi khác do điều kiện khí hậu và đất đai cụ thể, có thể sử dụng nguồn gốc như một điểm bán hàng độc đáo khi giới thiệu sản phẩm.

Gạo đóng gói sẵn và các nhãn hiệu gạo ngoại có thể được bán thông qua các nhà bán buôn. Tuy nhiên, để tiếp thị thương hiệu của riêng, tốt nhất bạn nên có sự hiện diện ở EU hoặc Bắc Âu. Nếu không, cần tìm đối tác để giúp quảng bá sản phẩm.

Tập đoàn phân phối lớn

Các tập đoàn bán lẻ lớn của Bắc Âu như Coop, ICA… nhập khẩu gạo thông qua trung tâm nhập khẩu và sau đó phân phối cho hệ thống bán lẻ của chính họ. Họ có các nhãn hiệu riêng nhập khẩu và đóng các loại gói cho người tiêu dùng và nhà hàng.

Gạo nhập khẩu vào thị trường Bắc Âu chia ra làm ba loại chính: dùng cho người, làm thức ăn gia súc, và làm nguyên liệu cho chế biến tiếp.

Các qui định nhập khẩu vào thị trường

Là thành viên EU, cơ chế, chính sách đối với nhập khẩu gạo của Thụy Điển và Đan Mạch hoàn toàn theo cơ chế, chính sách của EU.

Mặc dù Na Uy không phải là thành viên EU nhưng nằm trong Cộng đồng Kinh tế châu Âu. Do vậy, các qui định về nhập khẩu hàng nông sản, thực phẩm của Na Uy, cũng như Thụy Điển và Đan Mạch tuân thủ theo các qui định chung của EU về an toàn thực phẩm.

Tất cả các loại thực phẩm, bao gồm gạo, được bán tại Liên minh Châu Âu (EU) phải tuân thủ theo Luật Thực phẩm châu Âu, đảm bảo an toàn thực phẩm. Các qui định về chất phụ gia, chất ô nhiễm, giới hạn đối với mức độ tồn dư thuốc trừ sâu và độc tố nấm phải được tuân thủ nghiêm ngặt. Các yêu cầu phổ biến nhất liên quan đến chất gây ô nhiễm liên quan đến sự hiện diện của độc tố nấm mốc, dư lượng thuốc trừ sâu, vi sinh vật và kim loại nặng. Ngoài ra, nông sản, thực phẩm vào EU phải tuân thủ các qui định liên quan đến bao gói, nhãn mác và nhiều qui định khác. Tham khảo thêm các qui định này tại báo cáo:

Các qui định nhập khẩu nông sản và thực phẩm vào khu vực Bắc Âu .

Thuế

Hiện nay, thuế ngoài hạn ngạch EU (trong đó có Thụy Điển và Đan Mạch) áp lên gạo Việt Nam là 175 Euro/tấn với gạo xay xát, 65 Euro/tấn với gạo tấm và 211 Euro/tấn với thóc.

Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA) có hiệu lực từ ngày 1/8/2020, trong đó quy định cụ thể điều kiện đối với các loại gạo được hưởng ưu đãi. Cam kết cụ thể như sau:

Tại Na Uy, gạo nằm trong nhóm thuế thấp hoặc không thuế. Các mặt hàng nằm trong nhóm này thường là các mặt hàng Na Uy không sản xuất. Các mặt hàng trong nhóm này thường bị áp hạn ngạch thuế quan.

Hạn ngạch

EU dành riêng cho Việt Nam tổng hạn ngạch 80.000 tấn, với thuế trong hạn ngạch là 0%.

Các lô hàng gạo đáp ứng quy định hạn ngạch này cần đi kèm giấy chứng nhận đúng chủng loại được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam nêu rõ gạo thuộc một trong các loại gạo được nêu trong bảng dưới đây.

Hạn ngạch theo chủng loại gạo

Mặt hàng

Mã HS

(Biểu thuế của EU)

Lượng HNTQ

Gạo đã xát

1006.10.21; 1006.10.23

1006.10.25; 1006.10.27

1006.10.92; 1006.10.94

1006.10.96; 1006.10.98

1006.20.11; 1006.20.13

1006.20.15; 1006.20.17

1006.20.92; 1006.20.94

1006.20.96; 1006.20.98

20.000 tấn

Gạo đã xay

1006.30.21; 1006.30.23

1006.30.25; 1006.30.27

1006.30.42; 1006.30.44

1006.30.46; 1006.30.48

1006.30.61; 1006.30.63

1006.30.65; 1006.30.98

1006.30.67; 1006.30.92

1006.30.94; 1006.30.96

30.000 tấn

Gạo đã xay (gạo thơm)

1006.10.21; 1006.10.23

1006.10.25; 1006.10.27

1006.10.92; 1006.10.94

1006.10.96; 1006.10.98

1006.20.11; 1006.20.13

1006.20.15; 1006.20.17

1006.20.92; 1006.20.94

1006.20.96; 1006.20.98

1006.30.21; 1006.30.23

1006.30.25; 1006.30.27

1006.30.42; 1006.30.44

1006.30.46; 1006.30.48

1006.30.61; 1006.30.63

1006.30.65; 1006.30.67

1006.30.92; 1006.30.94

1006.30.96; 1006.30.98

30.000 tấn

Về cơ chế hạn ngạch thuế quan (TRQ) đối với mặt hàng gạo trong Hiệp định EVFTA đầu mối phía EU là đơn vị G.4 (Cây trồng và dầu ô liu) thuộc Tổng cục Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Arable Cops and Olive Oil, DG Agriculture and Rural Development).

Các lô hàng gạo thơm khi xuất khẩu vào thị trường EU phải tuân thủ theo quy định thực thi của EU về việc mở và tiếp nhận TRQ nhập khẩu cho gạo có xuất xứ từ Việt Nam. Doanh nghiệp sẽ cần xin cấp giấy phép nhập khẩu tại cơ quan có thẩm quyền của nước thành viên và phải nộp số tiền bảo đảm là 30 Euro/tấn tại thời điểm nộp đơn xin cấp giấy phép.

Trong trường hợp số lượng đăng ký vượt quá số lượng có sẵn theo TRQ cho giai đoạn, EU sẽ cố định một hệ số phân bổ.

Việc mở và tiếp nhận TRQ đối với gạo có xuất xứ từ Việt Nam được qui định tại Quy định thực thi (EU) 2020/991 .

Các lô hàng gạo thơm thuộc diện TRQ khi xuất khẩu vào thị trường EU, để được hưởng thuế suất 0% theo hạn ngạch, phải có giấy chứng nhận đúng chủng loại (authenticity certificate) được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam nêu rõ gạo thuộc một trong các chủng loại gạo được hưởng ưu đãi theo TRQ của Hiệp định.

Gạo thơm phải thuộc một trong số các loại sau:

Gạo nhập khẩu vào EU theo cơ chế TRQ sẽ được phân bổ theo cơ chế “doanh nghiệp đăng ký trước thì được cấp hạn ngạch trước” (first-come, first-served), dựa vào ngày mà đơn xin cấp phép nhập khẩu được cơ quan hải quan của EU chấp thuận.

Tại Na Uy, gạo nằm trong nhóm thuế thấp hoặc không thuế. Các mặt hàng nằm trong nhóm này thường là các mặt hàng Na Uy không sản xuất. Các mặt hàng trong nhóm này thường bị áp hạn ngạch thuế quan. Việc cấp hạn ngạch thuế quan thông qua nhiều hình thức. Một số hạn ngạch áp dụng cho tất cả các nước, trong khi một số chỉ dành cho các nước có thoả thuận thương mại song phương hoặc khu vực, một số hạn ngạch ưu đãi thuế dành cho các nước đang phát triển trong chương trình GSP. Hạn ngạch thuế quan cũng có thể được cấp thông qua đấu giá, nộp đơn xin, hoặc theo nguyên tắc ưu tiên những người yêu cầu trước (first come, first served basic).

Tiêu chuẩn sản phẩm

An toàn thực phẩm: truy xuất nguồn gốc, vệ sinh và kiểm soát

Yêu cầu quan trọng nhất đối với gạo là đảm bảo an toàn cho tiêu dùng. An toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc cần được ưu tiên hàng đầu. Việc không tuân thủ có thể dẫn đến việc nhập khẩu tạm thời bị ngừng hoặc phải kiểm tra chặt chẽ hơn đối với quốc gia xuất xứ. Là nhà cung cấp, cần đảm bảo làm việc theo các hướng dẫn của Phân tích mối nguy và Điểm kiểm soát tới hạn (HACCP).

Để đảm bảo gạo phù hợp với thị trường châu Âu, cần phải kiểm tra hàm lượng thuốc trừ sâu, chất gây ô nhiễm và vi sinh vật. Ví dụ, ô nhiễm thạch tín đã trở thành mối quan tâm nghiêm trọng ở Liên minh châu Âu (EU), dẫn đến việc đưa ra quy định chặt chẽ hơn vào năm 2016.

Giới hạn dư lượng thuốc trừ sâu tối đa (MRL) là yêu cầu quan trọng đối với thực phẩm, trong đó có gạo để có thể xuất khẩu gạo vào thị trường châu Âu. Châu Âu là một trong những thị trường nghiêm ngặt nhất về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Thông tin về giới hạn dư lượng tối đa (MRL) đối với thuốc trừ sâu có thể được sử dụng trên lúa tại Cơ sở dữ liệu thuốc trừ sâu của EU. Sử dụng thuật ngữ gạo, lúa gạo (mã số 0500060) hoặc loại thuốc trừ sâu làm thuật ngữ tìm kiếm tương ứng cho gạo. Trong vài năm qua, giới hạn dư lượng một số hóa chất đối với gạo đã được giảm xuống, chẳng hạn như Tricyclazole từ 1mg/kg xuống 0,01mg/kg vào năm 2017 và Buprofezin từ 0,5mg/kg xuống 0,01mg/kg vào năm 2019. Ngoài ra, các yêu cầu MRL đối với gạo hữu cơ và gạo được sử dụng trong thực phẩm trẻ em có yêu cầu rất nghiêm ngặt.

Việc truy xuất nguồn gốc là bắt buộc đối với tất cả các cơ sở kinh doanh thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Các nhà kinh doanh thực phẩm phải có khả năng truy xuất nguồn gốc gạo thông qua tất cả các giai đoạn sản xuất, chế biến và phân phối. Các giải pháp sáng tạo mới có thể giúp giải quyết vấn đề này. Ví dụ, Văn phòng Chiến lược và Chính sách Thương mại (TPSO) tại Thái Lan đã thông báo rằng họ sẽ sử dụng công nghệ blockchain để đảm bảo truy xuất nguồn gốc của các sản phẩm nông nghiệp, bắt đầu từ gạo hữu cơ.

Mức tối đa cho phép của cadmium và asen vô cơ trong các sản phẩm gạo

Chất gây ô nhiễm

Thực phẩm

Mức tối đa

(mg/kg trọng lượng ướt)

Cadmium

Cám, mầm, lúa mì, và gạo

0,20

Arsenic (vô cơ)

Gạo xay xát chưa đồ (được đánh bóng hoặc gạo trắng)

0,20

Gạo đồ và gạo lứt

0,25

Bánh gạo, bánh tráng

0,30

Gạo dành cho sản xuất thực phẩm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

0,10

Nguồn: Quy định (EC) 1881/2006 quy định mức tối đa đối với một số chất gây ô nhiễm trong thực phẩm và Quy định sửa đổi (EU) 2015/1006 quy định mức tối đa của asen vô cơ trong thực phẩm

Yêu cầu chất lượng

Gạo, bao gồm cả gạo đặc sản, được chia thành gạo hạt ngắn, trung bình và dài, tùy thuộc vào kích thước hạt và tỷ lệ chiều dài/chiều rộng.

FAO Codex Alimentarius có Tiêu chuẩn về gạo (2019) áp dụng cho gạo lứt, gạo xay xát, và gạo đồ dùng làm thức ăn cho người và mô tả một số yêu cầu chất lượng tối thiểu. Tiêu chuẩn này có thể được sử dụng làm hướng dẫn cho thị trường châu Âu. Nó quy định rằng, gạo phải an toàn và phù hợp để làm thực phẩm cho con người và không có mùi, vị bất thường, côn trùng sống.

Các định nghĩa liên quan đến ngành gạo

Nguồn: Quy định (EU) 1308/2013

Loại

Chiều dài (mm)

Tỷ lệ chiều dài, chiều rộng

Gạo hạt dài

Loại A

>6,0

>2,0 <3,0

Loại B

>6,0

>3,0

Gạo hạt vừa

>5,2

<3,0

Gạo hạt ngắn

<5,2

<2,0

Yêu cầu chất lượng cụ thể và mức tạp chất tối đa

Nguồn: FAO Codex Alimentarius Standard cho gạo 2019

Gạo lứt

Gạo xay xát

Gạo lứt đồ

Gạo xay xát đồ

Độ ẩm

15%

15%

15%

15%

Tạp chất có nguồn gốc từ động vật (bao gồm cả côn trùng chết)

0,1%

0,1%

0,1%

0,1%

Tạp chất hữu cơ khác như hạt lạ, trấu, cám, mảnh rơm rạ…

1,5%

0,5%

1,5%

0,5%

Tạp chất vô cơ như đá, cát, bụi…

0,1%

0,1%

0,1%

0,1%

Tấm mẳn (các hạt gãy lọt qua sàng có kích thước lỗ 1,4mm)

0,1%

0,1%

0,1%

0,1%

Hạt bị hỏng do nhiệt

4,0%

3,0%

8,0%

6,0%

Hạt bị hư hỏng (do ẩm ướt, côn trùng, sâu bệnh…)

4,0%

3,0%

4,0%

3,0%

Hạt gạo non

12,0%

2,0%

12,0%

2,0%

Hạt phấn (trừ gạo nếp)

11,0%

11,0%

N/A

N/A

Hạt đỏ (có hạt màu đỏ)

12,0%

4,0%

12,0%

4,0%

Hạt sọc đỏ

N/A

8,0%

N/A

8,0%

Hạt đen nâu (có bề mặt đen hoặc nâu sẫm)

N/A

N/A

4,0%

2,0%

Mức khuyến nghị tối đa cho các loại gạo khác:

  • Gạo tẻ
  • Gạo lứt
  • Gạo xát
  • Gạo nếp

2,5%

N/A

N/A

1,0%

0,3%

1,0%

N/A

1,0%

2,5%

N/A

2,0%

1,0%

0,3%

1,0%

2,0%

1,0%

Việc xay xát lúa gạo sau thu hoạch luôn dẫn đến một số hạt bị vỡ; tỷ lệ hạt gãy càng cao thì giá càng giảm do chất lượng bị coi là kém hơn. Tính nguyên vẹn của hạt gạo được xác định theo các thuật ngữ khác nhau như được nêu trong dưới đây. Thông thường đối với gạo có một tỷ lệ nhất định của hạt bị vỡ; ví dụ: "Gạo 5%" cho biết 5% các hạt bị hỏng.

Định nghĩa về tính toàn vẹn của gạo

Hạt nguyên

Không vỡ

Gạo nguyên

>/= 75% hạt nguyên

Tấm lớn

50-75% hạt nguyên

Tấm trung bình

25-50% hạt nguyên

Tấm nhỏ

<25% hạt nguyên, nhưng >1,4mm

Quy định số 1308/2013 của Ủy ban châu Âu cũng đưa ra tiêu chuẩn cho lúa gạo, cụ thể:

Hạt bạc phấn thuộc mã CN 1006 10 27 và 1006 10 98

1,5 %

Hạt bạc phấn thuộc mã CN khác ngoài hai mã trên

2,0 %

Hạt sọc đỏ

1,0 %

Hạt có đốm

0,50 %

Hạt có màu

0,25 %

Hạt vàng

0,02 %

Hạt xanh non

0,05 %

Bao gói, nhãn mác

Gạo xuất khẩu sang Bắc Âu phải tuân thủ việc ghi nhãn mác nhãn theo tiêu chuẩn châu Âu

Các thông tin sau đây phải có trên nhãn của gạo đóng gói sẵn. Về gạo xuất khẩu với số lượng lớn, một phần của thông tin này có thể được cung cấp trong các tài liệu thương mại:

Ngoài ra, nhãn phải bao gồm bất kỳ biểu tượng chứng nhận nào (nếu có) và/hoặc biểu tượng của nhà bán lẻ (trong trường hợp sản phẩm tiếp thị dưới nhãn hiệu riêng).

Nhãn đa ngôn ngữ thường được sử dụng trên bao bì của người tiêu dùng, nhưng ngôn ngữ của các nước nhập khẩu bắt buộc phải có.

Có thể sử dụng bao tải nhựa dệt bằng PP hoặc HDPE, tiết kiệm chi phí và có lớp PE phù hợp giúp bảo vệ tốt ở độ ẩm cao. Việc sử dụng bao tải giấy nhiều lớp phổ biến hơn đối với gạo hữu cơ, đôi khi có lớp lót PE bên trong làm màng chắn ẩm. Bao đay là hình thức đóng gói gạo truyền thống nhất, nhưng càng ngày càng ít được sử dụng.

Đối với gạo đặc sản như gạo thơm hoặc gạo lứt, bao bì LDPE có thể giúp lưu giữ hương thơm và mùi vị. Bao bì này thường được sử dụng để bán lẻ.

Bao bì gạo phải phù hợp để bảo vệ sản phẩm và tuân thủ Quy định (EC) số 1935/2004 về các vật liệu và vật phẩm dự kiến ​​tiếp xúc với thực phẩm.

Các qui định khác

Qui tắc xuất xứ đối với gạo và các sản phẩm gạo trong EVFTA

Đọc Hướng dẫn nhanh về các quy tắc xuất xứ trên Access2Markets và ba bước phải thực hiện để được phép trả thuế hải quan thấp hơn khi nhập khẩu gạo vào Châu Âu.

Thực phẩm biến đổi gen

Liên minh châu Âu (EU) có chính sách không khoan nhượng đối với các sinh vật biến đổi gen (GMO) chưa được EU chấp thuận. Ngoài gạo vàng, không có giống lúa biến đổi gen nào được biết đến.

Nếu các giống lúa biến đổi gen được áp dụng ở các nước xuất khẩu gạo sang EU, Liên đoàn Các nhà xay xát gạo châu Âu (FERM) cảnh báo rằng chính sách không khoan nhượng của EU sẽ tạo ra những vấn đề đáng kể đối với nguồn cung gạo và phá vỡ ngành công nghiệp gạo châu Âu.

Yêu cầu bổ sung của người mua hàng

Sở thích của người mua

Người mua gạo ở châu Âu có thể có những sở thích khác nhau liên quan đến chất lượng và đặc tính cụ thể của gạo. Chất lượng của gạo chủ yếu liên quan đến hình dạng, màu sắc, chất lượng xay xát và nấu chín và tính toàn vẹn của hạt (bao gồm các vết rạn, nứt trên hạt). Đối với gạo đặc sản, các đặc điểm khác biệt như độ dài hạt, độ dính, mùi thơm, kết cấu và hương vị thường đóng vai trò quan trọng. Các đặc điểm chất lượng cao cấp như mùi thơm làm tăng thêm giá trị.

Chứng nhận như một sự đảm bảo

Vì an toàn thực phẩm là ưu tiên hàng đầu trong tất cả các lĩnh vực thực phẩm của châu Âu, do vậy, hầu hết người mua sẽ yêu cầu đảm bảo thêm dưới hình thức chứng nhận. Hệ thống quản lý thực phẩm và các chứng nhận được công nhận bởi Sáng kiến An toàn Thực phẩm Toàn cầu (GFSI) được chấp nhận rộng rãi trên toàn châu Âu. Đối với các nhà xay xát hoặc chế biến gạo (xát vỏ, phân loại và đóng gói) muốn trở thành nhà cung cấp cho thị trường châu Âu, một hệ thống quản lý an toàn thực phẩm được công nhận là điều cần thiết.

Nếu là nhà cung cấp gạo, một trong các chương trình chứng nhận sau sẽ hữu ích, tùy thuộc vào vai trò trong chuỗi cung ứng (sản xuất, phân phối hoặc chế biến):

Chứng nhận hữu cơ

Những người mua chuyên biệt về ngũ cốc hữu cơ, cũng như các thương hiệu gạo lớn hơn hoặc các nhà sản xuất đồ ăn nhẹ hữu cơ tốt cho sức khỏe có thể yêu cầu chứng nhận hữu cơ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm hữu cơ. Gạo basmati và gạo jasmine hữu cơ cũng có sẵn trên thị trường châu Âu, nhưng đối với các loại gạo đặc sản hoặc thương hiệu dân tộc khác, chứng nhận hữu cơ là một thị trường nhỏ và ít cần thiết hơn.

Để tiếp thị các sản phẩm hữu cơ ở châu Âu, cần sử dụng các phương pháp sản xuất hữu cơ theo quy định của pháp luật châu Âu và xin giấy chứng nhận hữu cơ tại các tổ chức được công nhận. Lưu ý rằng Quy định pháp luật mới (EU) 2018/848 đã có hiệu lực từ tháng 1 năm 2021.

Tính bền vững và tuân thủ xã hội

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và tính bền vững đang ngày càng trở nên quan trọng trong ngành lúa gạo. Sự tập trung vào tính bền vững sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, bắt đầu từ các kênh cung cấp lớn nhất và các giống lúa gạo chính.

Việc áp dụng các quy tắc ứng xử hoặc các chính sách bền vững liên quan đến các tác động môi trường và xã hội của công ty sẽ tạo ra niềm tin và có thể mang lại lợi thế cạnh tranh. Người mua thường sẽ yêu cầu điền vào một bộ tài liệu và tờ khai trước khi kinh doanh hoặc yêu cầu tuân thủ quy tắc ứng xử của họ.

Các công ty gạo hàng đầu ủng hộ Nền tảng lúa gạo bền vững (SRP) và Tiêu chuẩn về canh tác lúa gạo bền vững. Các thành viên nền tảng bao gồm Olam International, Ebro Foods, Van Sillevoldt Rijst BV, Veetee, Riso Gallo, Reismuehle Brunnen Co Ltd, Mars Food, và chuỗi siêu thị Lidl (siêu thị giảm giá), và Ahold Delhaize. Các công ty này cam kết cải thiện thực hành tốt nhất bền vững thông minh với khí hậu giữa các hộ nông dân nhỏ. Một nhà xuất khẩu nên phải là một phần của chuỗi cung ứng và chia sẻ trách nhiệm này.

Bên cạnh Tiêu chuẩn SRP về canh tác lúa bền vững, còn có các tiêu chuẩn và chứng nhận khác sẽ giúp đáp ứng kỳ vọng của người mua. Các sáng kiến ​​hoặc chương trình chứng nhận có thể giúp cải thiện hiệu suất CSR, là:

Nhãn tiêu dùng cho các thực hành thương mại công bằng, chẳng hạn như Fairtrade International, là một yêu cầu thích hợp trong lĩnh vực gạo. Tuy nhiên, nó có thể giúp đảm bảo sự ổn định về giá cả và là một cách để tạo sự khác biệt cho sản phẩm của bạn như một sản phẩm gạo đặc biệt từ nguồn cung cấp gạo số lượng lớn. Thương mại công bằng thường được quản lý bởi những người mua chuyên biệt hoặc thương hiệu của các tổ chức thương mại công bằng như Fairtrade Original, Oxfam Fair Trade và Claro.

Gạo thương mại công bằng đã tham gia vào các chuỗi bán lẻ lớn và cũng có sẵn cho gạo đặc sản, gạo hữu cơ, hoặc trộn với các loại ngũ cốc thương mại công bằng khác như quinoa. Việc bán gạo thương mại công bằng của các siêu thị thông thường là một dấu hiệu tích cực cho việc mở rộng hơn nữa thị trường ngách của sản phẩm thương mại công bằng.

Một trong những người chơi chính trong lĩnh vực gạo thương mại công bằng là Reis Mühle Brunnen (RMB), một nhà máy đóng gói và xay xát gạo đã trở thành một phần của Coop, cũng đã thành công với gạo thương mại công bằng.

Một số ví dụ thành công

Một loại gạo đặc sản sẽ trở nên khác biệt với việc buôn bán gạo thông thường. Nhưng nó cần có tổ chức tốt, một sản phẩm xuất sắc và thực hành sản xuất, và đủ nguồn lực tài chính để quảng bá và bán sản phẩm của bạn trên thị trường quốc tế.

Sản xuất hữu cơ và bền vững là những cách bổ sung để phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Ví dụ về các công ty đã thực hiện thành công điều này là LT Foods ở Ấn Độ và Urmatt ở Thái Lan.

LT Foods (Ấn Độ)

LT Foods đã giới thiệu thành công thương hiệu gạo đặc sản Daawat tại châu Âu, cung cấp các loại gạo basmati đóng gói sẵn khác nhau. LT Foods trên toàn thế giới bán hơn 460.000 tấn gạo basmati đóng gói mỗi năm.

Điều này cho thấy có cơ hội cho các công ty gạo nước ngoài giới thiệu các thương hiệu gạo đặc sản ở châu Âu. Tuy nhiên, chỉ có một số ví dụ như hầu hết các thương hiệu được sản xuất tại châu Âu và bởi các công ty thương hiệu đa quốc gia.

Quy mô và sức bán, cũng như sự khác biệt, là những yếu tố quan trọng khi giới thiệu một thương hiệu gạo đặc sản ở châu Âu nói chung cũng như Bắc Âu nói riêng. Trách nhiệm xã hội và sức khỏe là những cách bổ sung mà LT Foods tìm cách tạo nên sự khác biệt. LT Foods là thành viên của Nền tảng Lúa Bền vững (SRP) và với công ty con Nature Bio Foods, họ kết hợp thực phẩm hữu cơ lành mạnh với sự phát triển kinh tế xã hội của nông dân. Thông qua công ty con này, họ cung cấp gạo basmati hữu cơ và các loại gạo đặc sản hữu cơ khác như gạo đen hữu cơ, gạo đỏ (giống Bao-Dhan) và gạo Sona Masoori (một loại gạo thơm từ miền nam Ấn Độ).

Urmatt (Thái Lan)

Công ty Urmatt Ltd. ở Thái Lan tự hào là nhà sản xuất gạo hương lài hữu cơ lớn nhất. Công ty cung cấp gạo hương lài hữu cơ (xát hoặc xay), cũng như gạo đen hữu cơ, gạo đỏ, gạo nếp (trắng và đen) và gạo hạt dài. Hầu hết gạo được bán cho Mỹ, Đan Mạch và Đức. Bên cạnh việc bán các loại gạo hữu cơ này, công ty còn sản xuất bột gạo và các sản phẩm tiêu dùng như bánh quy và bánh gạo.

Với nguồn tài trợ thương mại từ Quỹ Thương mại Bền vững Triodos, Urmatt có thể tăng cường hoạt động gạo hữu cơ và mở rộng dòng sản phẩm đồng thời trả cho nông dân mức lương công bằng và ngay lập tức khi giao hàng. Một khoản vay từ Quỹ Hivos-Triodos đang được sử dụng để mở rộng năng lực hoạt động của Urmatt.

Việc tập trung vào gạo đặc sản hữu cơ giúp Urmatt tạo sự khác biệt với các nhà xuất khẩu gạo khác, vì nó làm việc trực tiếp với một nhóm lớn nông dân và có sự hỗ trợ tài chính của các nhà đầu tư xã hội để giúp Urmatt phát triển kinh doanh.

Các doanh nghiệp nhập khẩu gạo Bắc Âu

Thụy Điển

Svensk Risimport AB

Svensk Risimport AB là một trong số ít doanh nghiệp có nhà máy sản xuất gạo tại Thụy Điển. Họ nhập khẩu rồi xử lý và đóng gói nguyên liệu thô. Nhà máy có có diện tích 3.700m2 và sức chứa lên đến 5.000MT, tương ứng với 4.200 pallet. Hoạt động trong lĩnh vực gạo hơn 30 năm, doanh nghiệp này nhập khẩu và cung cấp ít nhất 25 loại gạo cho thị trường Thụy Điển.

Liên hệ:

Địa chỉ: Fakturavägen 10, 175 62 Järfälla

Phone: + 46 8 76 168 10
Email: điền theo đường link

Website: http://www.svenskrisimport.com/

Swedish Fine Rice & Food AB

Swedish Fine Rice & Food AB cũng là một trong số rất ít doanh nghiệp Thụy Điển có nhà máy xay xát và đánh bóng gạo. Doanh nghiệp thành lập từ năm 1988 tại Eskilstuna. Hiện nay, doanh nghiệp mở rộng sang các lĩnh vực thực phẩm khác không chỉ có gạo. Các loại gạo được nhập khẩu và chế biến rất đa dạng từ gạo bastima, jasmine, cho đến gạo đồ.

Liên hệ:

Địa chỉ: Elektronvägen 6, 141 49 Huddinge

Phone: + 46 73 640 61 17/18
Email: info@swedishrice.com

Website: http://www.swedishrice.com/

Import Export AB

Madam Hong là doanh nghiệp chuyên nhập khẩu hàng thực phẩm Á châu, trong đó có mặt hàng gạo. Đây là một trong những doanh nghiệp nhập khẩu gạo Việt Nam nhiều nhất tại Thụy Điển và phân phối độc quyền thương hiệu gạo Lotus của Việt Nam tại thị trường này. Đây cũng là thương hiệu gạo duy nhất của Việt Nam giữ được tên tại thị trường này. Madam Hong là doanh nghiệp bán buôn với nhiều mặt hàng mang thương hiệu Madam Hong. Doanh nghiệp này đồng thời cũng có cửa hàng bán lẻ thực phẩm Á châu, trong đó có rất nhiều mặt hàng của Việt Nam.

Liên hệ:

Địa chỉ: Elektronvägen 1, 141 49 Huddinge

Phone: + 46 8 6503 680
Email: info@madamhong.se

Website: https://madamhong.com/

A Chau Lien Import & Export AB

A Chau Lien được thành lập từ năm 1981, chuyên nhập khẩu và phân phối hàng Á châu. Đây là một trong những doanh nghiệp nhập khẩu hàng Việt Nam nhiều nhất tại Thụy Điển với đa dạng chủng loại hàng hóa. Doanh nghiệp này nhập khẩu cả gạo Thái Lan và Việt Nam, trong đó gạo Jasmine của Việt Nam được phân phối với thương hiệu riêng Twin Dragons. Gạo Japonica của Việt Nam được nhập khẩu và phân phối đầu tiên tại Thụy Điển bởi doanh nghiệp này và cũng được đóng gói với thương hiệu riêng là Makoto. Ngoài nhập khẩu và bán buôn, doanh nghiệp này cũng có siêu thị bán lẻ của riêng mình.

Liên hệ:

Địa chỉ: Torbornavägen 15, 253 68 Helsingborg

Phone: + 46 42 206503
Email: info@achaulien.se

Website: https://www.achaulien.se/

Hungfat Trading Asien Livs AB

Hungfat hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm Á châu hơn 30 năm, chủ yếu là nhập khẩu và bán buôn. Hungfat cũng có 2 cửa hàng bán lẻ tại Gothenburg là thành phố lớn thứ hai tại Thụy Điển. Trong lĩnh vực gạo, Hungfat nhập khẩu đa dạng các loại gạo từ cả Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam. Ngoài gạo thơm thông thường, Hungfat còn nhập khẩu nhiều loại gạo đặc sản của Việt Nam như gạo nếp cái Hoa vàng, gạo nếp men xay, nếp cẩm, gạo lứt…

Liên hệ:

Địa chỉ: Tagenevägen 3, 422 59 Hisings Backa

Phone: + 46 31 233384
Email: info@hungfat.se

Website: http://hungfat.se/

Saigon Food AB

Saigon Food là một trong những doanh nghiệp nhập khẩu và kinh doanh hàng Á châu lớn nhất Thụy Điển. Đối với mặt hàng gạo, doanh nghiệp chủ yếu nhập khẩu từ Thái Lan và Campuchia. Gạo Việt Nam được doanh nghiệp này mua lại của các doanh nghiệp nhập khẩu hàng Á châu khác để phân phối tại hệ thống bán lẻ của mình.

Liên hệ:

Địa chỉ: Lilla Klädpressaregatan 15, 411 05 Gothenburg

Phone: + 46 31 3378400
Email: info@saigon.se

Website: https://www.saigon.se/

East Asian Food AB

East Asia cũng là một trong những doanh nghiệp nhập khẩu hàng Á châu lớn của Thụy Điển và phân phối trong khu vực Bắc Âu. Đây cũng là một trong những doanh nghiệp nhập khẩu hàng Việt Nam đa dạng và phong phú nhất tại Thụy Điển. Tuy nhiên, đối với mặt hàng gạo, hiện doanh nghiệp chủ yếu nhập khẩu gạo từ Thái Lan và Campuchia.

Liên hệ:

Địa chỉ: Bryggerigatan 1, 267 39 Bjuv

Phone: + 46 42 82541
Email: info@eastasianfood.com

Website: https://www.eastasianfood.com/

CT Food

CT Food là công ty nhập khẩu và phân phối hàng đầu các mặt hàng Á châu tại Thụy Điển, với nhiều loại thực phẩm cao cấp của các thương hiệu nổi tiếng. Với hơn 30 năm kinh nghiệm, CT Food có hệ thống kho hàng bán buôn tại cả Stockholm và Malmo là hai thành phố lớn của Thụy Điển. CT Food nhập khẩu và phân phối lại cho nhiều hệ thống siêu thị lớn tại Thụy Điển. Tuy nhiên, doanh nghiệp này hiện nhập khẩu rất ít hàng Việt Nam, chủ yếu nhập khẩu hàng Thái Lan, trong đó có mặt hàng gạo.

Liên hệ:

Địa chỉ: Risyxegatan 8, 213 76 Malmo

Phone: + 46 40 888 10
Email: info@ctfood.se

Website: https://www.ctfood.se/

Trinh Cash AB

Trinh Cash là một doanh nghiệp bán buôn thực phẩm nằm ở Årsta, Stockholm. Công ty nhập khẩu nhiều loại thực phẩm để bán lại cho các nhà hàng, bếp ăn thương mại, và các cửa hàng bán lẻ trên khắp Thụy Điển. Đối với mặt hàng gạo, doanh nghiệp này trước đây chủ yếu nhập khẩu từ Campuchia. Hiện nay, Trinh Cash bắt đầu chuyển hướng sang nhập khẩu gạo Việt Nam, cho dù nhập khẩu gạo Campuchia vẫn chiếm ưu thế.

Liên hệ:

Địa chỉ: Importörvägen 17, 120 44 Årsta

Phone: + 46 8 206 543
Email: info@trinhcash.se

Website: https://www.trinhcash.se/

Dragon Port Foods AB

Dragon Port là một trong những doanh nghiệp nhập khẩu hàng Á châu lớn nhất của Thụy Điển. Doanh nghiệp này nhập khẩu hàng thực phẩm từ Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, và Việt Nam rồi phân phối lại chủ yếu cho các nhà hàng tại Thụy Điển. Dragon Port nhập khẩu gạo nhưng chưa nhập khẩu nhiều từ Việt Nam.

Liên hệ:

Địa chỉ: Konstruktionsvägen 8, 435 33 Mölnlycke

Phone: + 46 301 317 88
Email: info@dragonport.se

Website: https://www.dragonport.se/en/

Thai Fong AB

Thai Fong là doanh nghiệp nhập khẩu và bán buôn hàng thực phẩm Á châu. Doanh nghiệp được thành lập năm 2004, nhập khẩu hàng hóa chủ yếu từ Thái Lan, Việt Nam, Nhật Bản, và Trung Quốc.

Liên hệ:

Địa chỉ: Generatorgatan 19, 19560 Arlandastad, Stockholm

Phone: + 46 8 591408 00
Email: info@thaifong.se

Website: https://www.thaifong.se/

Bangsue Rice AB

Bangsue Rice AB là nhà nhập khẩu và phân phối gạo Jasmine với thương hiệu riêng là Golden Phoenix. Doanh nghiệp này chủ yếu bán buôn và đã hoạt động trong ngành gạo từ năm 1986. Gạo của doanh nghiệp này chủ yếu là gạo Thái Lan.

Liên hệ:

Địa chỉ: Gamlestadsvägen 20D, 415 02 Gothenburg

Phone: + 46 31 195990
Email: info@bangsuerice.se

Website: https://bangsuerice.se/

Rojan Food AB

Rojan Food AB được thành lập vào năm 2000. Ý tưởng là bắt đầu kinh doanh bán buôn thực phẩm với một loạt sản phẩm duy nhất tập trung vào thực phẩm từ mọi nơi trên thế giới. Rojan Food AB chuyên về gạo và các sản phẩm châu Á. Năm 2009, Rojan Food AB mua lại cơ sở riêng với hơn 4.500m2 diện tích nhà kho.

Liên hệ:

Địa chỉ: Hejar gatan 1, 633 29 Eskilstuna

Phone: + 46 16 482860
Email: info@rojanfood.com

Website: https://www.rojanfood.com/

Kista Grossen AB

Kista Grossen là một trong những cửa hàng bán buôn tư nhân lớn nhất Stockholm, chuyên kinh doanh các mặt thực phẩm quốc tế, trong đó có gạo. Kista Grossen cung cấp đa dạng các loại gạo từ gạo bastima và jasmine của nhiều thương hiệu khác nhau, từ đóng gói 1kg, 2k, 5kg cho người tiêu dùng cuối cùng, đến đóng gói 10kg, 20kg cho các nhà hàng.

Liên hệ:

Địa chỉ: Torsnäsgatan 4-6, 164 40 Kista

Phone: + 46 8 751 01 00

Email: info@kistagrossen.com

Website: http://www.kistagrossen.com/

Đan Mạch

Nordic Food Partner AS

Nordic Food Partners (NFP) được thành lập từ năm 2001. Trong một số năm, Nordic Food Partners hoạt động như một công ty kinh doanh các sản phẩm thực phẩm trên thị trường Bắc Âu.

Vào năm 2008, NFP đã phát triển quy mô lớn sang lĩnh vực kinh doanh thực phẩm hữu cơ và cộng tác với tập đoàn bán lẻ lớn Dansk Supermarked, giới thiệu một loạt nhãn riêng liên quan đến gạo hữu cơ. Trong năm 2014, NFP đã thành lập nhà máy xay xát gạo và cho đến nay vẫn là nhà máy xay xát gạo duy nhất ở Đan Mạch và cũng là nhà máy xay xát chuyên 100% gạo hữu cơ duy nhất tại châu Âu.

Đến năm 2020, NFP có một loạt các cửa hàng thực phẩm khô hữu cơ, được phân phối chủ yếu cho các nhà bán lẻ và công ty dịch vụ thực phẩm ở Bắc Âu cũng như cho các khách hàng công nghiệp và khách hàng bán lẻ ở Áo, Pháp, Hà Lan, v.v.

Liên hệ:

Địa chỉ: Ørslevklostervej 58A, 7840 Højslev

Phone: + 45 45 46 93 30
Email: nfp@nfp.dk

Website: https://www.nordicfoodpartners.dk/?lang=en

Ebrofrost Denmark AS

Ebrofrost là doanh nghiệp hàng đầu Đan Mạch về gạo, ngũ cốc, và mỳ nấu sẵn IQF cho ngành công nghiệp thực phẩm, đặc biệt tập trung vào thị trường “Bữa ăn sẵn”. Công ty được thành lập vào năm 1993 tại Ørbæk, Đan Mạch với tên gọi Danrice AS. Doanh nghiệp này nổi tiếng với nhiều sản phẩm gạo IQF.

Năm 2004, Danrice trở thành một phần của Tập đoàn Thực phẩm Ebro và thành lập liên doanh với Keck Spezialitäten vào năm 2013, để hình thành nhà cung cấp độc lập lớn nhất châu Âu về gạo, mỳ ống và ngũ cốc IQF trực thuộc Công ty mẹ Ebro Frost GmbH. Đến năm 2018, doanh nghiệp đổi tên thành Ebrofrost Denmark AS.

Doanh nghiệp này nhập khẩu gạo chủ yếu để chế biến.

Liên hệ:

Địa chỉ: Ringvej 14, 5853 Ørbæk

Phone: + 45 65 33 17 10
Email: mail@erofrost.dk

Website: http://www.danrice.dk/

Asian Food Supply AS

Asian Food Supply là một doanh nghiệp kinh doanh hàng thực phẩm Á châu lớn tại Đan Mạch. Doanh nghiệp này nhập khẩu trực tiếp từ các nhà sản xuất ở châu Á. Doanh nghiệp cũng hợp tác với một loạt chuỗi cửa hàng và đầu mối thu mua hàng đầu Châu Âu trong thị trường thực phẩm nhãn hiệu riêng.

Liên hệ:

Địa chỉ: Skæringvej 88, 8520 Lystrup

Phone: + 45 3177 9838
Email: info@asianfoodsupply.dk

Website: http://asianfoodsupply.dk/

Mega Food AS

Mega Food nhập khẩu thực phẩm từ các nước trên khắp thế giới, từ các nước châu Á, châu Phi, đến Trung Đông. Doanh nghiệp thường nhập khẩu thực phẩm thô sau đó đóng gói dưới thương hiệu riêng của họ trước khi tiêu thụ trên thị trường. Doanh nghiệp này nhập khẩu đa dạng các loại gạo từ bastima, jasmine, đến japonica.

Liên hệ:

Địa chỉ: Sintrupvej 30-32, 8220 Brabrand

Phone: + 45 86 15 34 33
Email: info@megafood.dk

Website: https://megafood.dk/

M. Trading APS

Trading hay còn được biết đến là Moughal Import là doanh nghiệp chuyên nhập khẩu hàng thực phẩm để bán buôn và bán lẻ. Doanh nghiệp nhập khẩu nhiều loại gạo với nhiều thương hiệu khác nhau, chủ yếu đóng bao lớn cung cấp cho các nhà hàng.

Liên hệ:

Địa chỉ: Kornmarksvej 6, 2605 Brøndby

Phone: + 45 33 25 83 99
Email: info@mtrading.dk

Website: https://mtrading.dk/

Crispy Food AS

Crispy Food là nhà sản xuất ngũ cốc ăn sáng lớn nhất Đan Mạch và là sự hợp nhất giữa Nakskov Mill Foods AS và Crispy Food AS. Với hơn 100 năm kinh nghiệm, doanh nghiệp là nhà cung cấp hàng đầu của châu Âu trong ngành công nghiệp sữa và thực phẩm nói chung và nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bán lẻ sản phẩm thực phẩm.

Crispy Food không phân phối gạo mà chủ yếu nhập khẩu gạo để sản xuất ngũ cốc ăn sáng và các sản phẩm chế biến khác.

Liên hệ:

Địa chỉ: Blommeskoven 2, 4281 Goerlev

Phone: + 45 58 87 05 00
Email: crispy@crispyfood.com

Website: https://crispyfood.com/

Asian Wok House AS

Asian Wok House là công ty thương mại và nhập khẩu hàng châu Á, có trụ sở tại Đan Mạch và Hongkong chuyên thu mua hàng châu Á để cung cấp cho thị trường Đan Mạch.

Liên hệ:

Phone: + 45 40 19 08 79
Email: info@asianwokhouse.dk

Website: http://asianwokhouse.dk/

Na Uy

Mandarinen Import & Engros AS

Mandarinen là một trong những nhà cung cấp dịch vụ thực phẩm Á châu lớn nhất của Na Uy với hai kho hàng nằm ở Oslo và Bergen, là hai thành phố lớn nhất của Na Uy. Khách hàng của doanh nghiệp này chủ yếu là các nhà hàng, siêu thị, quán cà phê, khách sạn, cơ sở kinh doanh ăn uống và các nhà cung cấp dịch vụ ăn uống khác. Tập đoàn Norgesgruppen, một trong những tập đoàn bán lẻ lớn nhất của Na Uy, là 1 cổ đông của Mandarinen với 34% vốn.

Doanh nghiệp cung cấp các loại thực phẩm trong đó có gạo.

Liên hệ:

Địa chỉ: Håndverksveien 15, 1405 Langhus

Phone: + 47 48 99 78 88
Email: info@mandarinen.no

Website: https://www.mandarinen.no/

Scanesia AS

Scanesia là nhà cung cấp và xuất khẩu các loại thực phẩm từ châu Á và hải sản từ Na Uy.

Doanh nghiệp nhập khẩu thực phẩm từ châu Á và cung cấp cho nhiều chuỗi cửa hàng lớn và nổi tiếng ở Na Uy như Meny, Kiwi, Bunnpris, Coop, Rema 1000, và Europris và xuất khẩu hải sản Na Uy đi các nước như Mỹ, Canada, Peru, Columbia, Thổ Nhĩ Kỳ. Hiện nay, doanh nghiệp này bắt đầu nhập khẩu gạo từ Việt Nam.

Liên hệ:

Địa chỉ: Gneisveien 2, 1914 Ytre Enebakk

Phone: + 47 93 03 47 85
Email: martin.jorgense@scanesia.no

Website: https://www.scanesia.no/

Asian Food Import AS

Asian Food thành lập vào năm 2005 với trụ sở chính và nhà kho rộng 4.000m2, đặt tại Frogner (cách Oslo 20 phút). Mỗi năm, doanh nghiệp nhập khẩu khoảng 330 container và phân phối khoảng 3.000 sản phẩm thực phẩm Á châu, trong đó có mặt hàng gạo.

Liên hệ:

Địa chỉ: Lindebergvegen 10, 2016 Frogner

Phone: + 47 22 68 64 00
Email: afood@asianfood.no

Website: https://afood.no/

Asia Engros AS

Asia Engros là một doanh nghiệp nhập khẩu và bán buôn hàng Á châu tại Oslo. Doanh nghiệp nhập khẩu rất nhiều hàng thực phẩm Á châu, trong đó có mặt hàng gạo từ Việt Nam.

Liên hệ:

Địa chỉ: Okern Torg Veien 3, 0580 Oslo

Phone: + 47 22 64 94 44
Email: tron@asiaengros.no

Website: https://asiaengros.no/

Thương mại với Việt Nam

Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Bắc Âu

Hiện nay, Việt Nam chỉ mới xuất khẩu gạo xay xát sang khu vực Bắc Âu. Tuy kim ngạch xuất khẩu chưa phải là nhiều nhưng với tốc độ tăng trưởng rất cao, trung bình 54%/năm trong giai đoạn 5 năm trở lại đây, đặc biệt là giai đoạn 2019-2020.

Trong năm 2020, kim ngạch nhập khẩu gạo Việt Nam đạt 5,8 triệu USD, tương đương với 7.353 tấn, với giá trung bình là 740 USD/tấn, chiếm 3,1% thị phần nhập khẩu của các nước Bắc Âu.

Tổng quan thương mại gạo giữa Việt Nam và các nước Bắc Âu

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2016-2020

(%)

Thị phần

tại Bắc Âu

(%)

5.821

7.353

740

54

3,1

Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các nước Bắc Âu năm 2020

Đơn vị tính: nghìn USD

Trước năm 2019, Thụy Điển hầu như không nhập khẩu gạo Việt Nam. Từ năm 2019, với việc vận động, xúc tiến thương mại mặt hàng gạo của Thương vụ để chuẩn bị đón đầu Hiệp định EVFTA, kim ngạch nhập khẩu gạo của Thụy Điển từ Việt Nam đã có bước tăng trưởng đáng kể, từ vài chục đến hơn 100.000 USD đã lên đến hơn 1 triệu USD năm 2019 và 1,7 triệu USD năm 2020.

Xuất khẩu gạo Việt Nam sang Na Uy cũng tăng mạnh từ 1,8 triệu USD năm 2018 lên hơn 3,7 triệu USD năm 2020.

Nhập khẩu gạo của Đan Mạch từ Việt Nam không tăng trưởng mạnh như thị trường Thụy Điển và Na Uy nhưng cũng ở mức trung bình 8%/năm trong giai đoạn 5 năm 2016-2020, cao hơn mức tăng trưởng nhập khẩu gạo trung bình của thị trường này.

Thụy Điển

Năm 2020, Thụy Điển nhập khẩu 1,75 triệu USD, tương đương với 2.591 tấn gạo từ Việt Nam, tăng 69% so với năm 2019, với giá nhập khẩu trung bình 674 USD/tấn. Tuy tăng trưởng mạnh, nhưng gạo Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1,8% thị phần gạo nhập khẩu tại Thụy Điển.

Trong giai đoạn 2016-2020, nhập khẩu gạo của Thụy Điển từ Việt Nam đã tăng trung bình 132%/năm về giá trị và 156% về lượng nhập khẩu/năm.

Thương mại gạo của Việt Nam và Thụy Điển năm 2020

Nguồn: ITC

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2019-2020

(%)

Thị phần

tại Thụy Điển

(%)

1.747

2.591

674

69

1,8

Kim ngạch nhập khẩu gạo của Thụy Điển từ Việt Nam giai đoạn 2016-2020

Đơn vị tính: nghìn USD
Nguồn: ITC

HS

Chủng loại

2016

2017

2018

2019

2020

100630

Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng

157

27

67

1.031

1.747

100620

Gạo lứt

2

1

0

5

0

100640

Tấm

0

0

0

0

0

100610

Thóc

0

0

0

0

0

Đan Mạch

Năm 2020, Đan Mạch nhập khẩu 0,35 triệu USD, tương đương với 518 tấn gạo từ Việt Nam, tăng 1% so với năm 2019, với giá nhập khẩu trung bình 666 USD/tấn. Gạo của Việt Nam chiếm thị phần không đáng kể, chỉ 0,7% tại thị trường Đan Mạch.

Trong giai đoạn 2016-2020, nhập khẩu gạo của Đan Mạch từ Việt Nam đã tăng trung bình 9% về lượng và 7% về giá trị nhập khẩu/năm.

Thương mại gạo của Việt Nam và Đan Mạch năm 2020

Nguồn: ITC

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2019-2020

(%)

Thị phần

tại Thụy Điển

(%)

345

518

666

1

0,7

Kim ngạch nhập khẩu gạo của Đan Mạch từ Việt Nam giai đoạn 2016-2020

Đơn vị tính: nghìn USD
Nguồn: ITC

HS

Chủng loại

2016

2017

2018

2019

2020

100630

Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng

237

327

501

342

345

100620

Gạo lứt

0

0

0

0

0

100640

Tấm

0

0

0

0

0

100610

Thóc

0

0

0

0

0

Na Uy

Năm 2020, Na Uy nhập khẩu 3,73 triệu USD, tương đương với 4.244 tấn gạo từ Việt Nam, tăng 74% so với năm 2019, với giá nhập khẩu trung bình 879 USD/tấn. Việt Nam là 1 trong 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất vào Na Uy, chiếm 9,1% thị phần gạo nhập khẩu, đứng sau Thái Lan, Pakistan, Ý, và Ấn Độ.

Trong giai đoạn 2016-2020, nhập khẩu gạo của Na Uy từ Việt Nam đã tăng trung bình 14% về lượng và 20% về giá trị nhập khẩu/năm.

Thương mại gạo của Việt Nam và Na Uy năm 2020

Nguồn: ITC

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2019-2020

(%)

Thị phần

tại Thụy Điển

(%)

3.733

4.247

879

74

9,1

Đơn vị tính: nghìn USD

Kim ngạch nhập khẩu gạo của Na Uy từ Việt Nam giai đoạn 2016-2020

Đơn vị tính: nghìn USD
Nguồn: ITC

HS

Chủng loại

2016

2017

2018

2019

2020

100630

Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng

1.584

2.006

1,851

2,139

3,729

100620

Gạo lứt

0

0

0

9

4

100640

Tấm

0

0

0

0

0

100610

Thóc

0

0

0

0

0

Đối thủ cạnh tranh

Thị trường gạo Bắc Âu khá nhỏ và xa nên các doanh nghiệp thường nhập khẩu gạo từ các nước đầu mối xung quanh như Hà Lan, Ba Lan, Đức, Ý… Thị phần các nước ngoài châu Âu chiếm chưa đến 40% tổng thị phần nhập khẩu gạo của khu vực này.

Các đối thủ cạnh tranh chính của gạo Việt Nam là Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, và Campuchia với các loại gạo thơm và các loại gạo khác của họ. Các nước như Myanmar, Bangladesh, giống như Campuchia được hưởng lợi từ mức thuế nhập khẩu 0% đối với mặt hàng gạo cũng là các đối thủ cạnh tranh tiềm năng.

Trong các nước xuất khẩu trực tiếp gạo vào Bắc Âu, Pakistan và Ấn Độ chủ yếu xuất khẩu gạo dài Basmati, trong khi Thái Lan, Campuchia, Myanmar chủ yếu xuất khẩu gạo Jasmine.

Các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam tại Bắc Âu

Nguồn: ITC

Đối thủ cạnh tranh

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2016-2020

(%)

Thị phần

tại Bắc Âu

(%)

Tổng

186.523

148.718

1 .208

8

100

Thái Lan

31.202

24.521

1.257

5

16,7

Ý

25.791

21.803

1.237

9

13,8

Pakistan

23.187

19.049

1.247

26

12,4

Ba Lan

18.395

15.365

1.332

3

9,9

Hà Lan

17.481

11.265

1.562

51

9,4

Bỉ

15.160

11.634

1.192

7

8,1

Ấn Độ

10.651

8.296

1.293

-7

5,7

Đức

10.572

7.314

1.423

2,7

5,6

Campuchia

7.529

7.783

1030

-11

4,0

Việt Nam

5.821

7.353

740

54

3,1

Thụy Điển

Các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam tại Thụy Điển

Nguồn: ITC

Đối thủ cạnh tranh

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2016-2020

(%)

Thị phần

tại Thụy Điển

(%)

Tổng

97 . 882

72 . 764

1 . 345

10

100

Pakistan

12.530

10.052

1.247

37

12,8

Ý

12.286

8.050

1.526

6

12,6

Thái Lan

12.181

9.856

1.236

13

12,4

Bỉ

11.962

8.114

1.474

5

12,2

Hà Lan

11.622

7.216

1.611

28

11,9

Ba Lan

9.961

7.303

1.364

21

10,2

Ấn Độ

5.709

4.987

1.145

-12

5,8

Đan Mạch

4.437

2.242

1.979

7

4,5

Đức

3.615

2.545

1.420

1

3,7

Campuchia

3.391

4.033

841

-4

3.5

Việt Nam

1 . 747

2 . 591

674

132

1 , 8

Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy rằng, Thụy Điển nhập khẩu phần lớn gạo qua các nước trung gian đầu mối tại EU. Các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam là Pakistan, Thái Lan, Ấn Độ, và Campuchia.

Trong đó, tăng trưởng nhập khẩu từ Ấn Độ giảm do cạnh tranh với Pakistan đối với gạo Bastima, và tăng trưởng nhập khẩu từ Campuchia giảm do bị áp thuế tự vệ trong 3 năm 2019-2021 và cạnh tranh với gạo Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế từ EVFTA.

Tăng trưởng của Việt Nam tăng trung bình trong giai đoạn 2016-2019 là 136%/năm, trong đó chủ yếu tăng trong giai đoạn 2019-2020 do giá gạo Việt Nam thấp hơn nhiều so với giá gạo của Thái Lan và Campuchia, chưa kể gạo Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế hơn hẳn Thái Lan và Campuchia kể từ tháng 1/8/2020.

So sánh giá gạo nhập khẩu tại Thụy Điển

Đơn vị tính: USD/tấn

So sánh thuế giữa Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh chính

Đan Mạch

Các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam tại Đan Mạch

Nguồn: ITC

Đối thủ cạnh tranh

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2016-2020

(%)

Thị phần

tại Thụy Điển

(%)

Tổng

47 . 584

43 . 740

1 . 088

5

100

Ý

8.864

10.101

878

14

18,6

Ba Lan

7.976

7.777

1.026

6

16,8

Đức

6.455

4.406

1.465

1

13,6

Pakistan

5.636

4.926

1.144

5

11,8

Campuchia

3.896

3.539

1.101

6

8,2

Hà Lan

3.495

2.743

1.274

23

7,3

Thái Lan

3.286

2.690

1.222

-8

6,9

Bỉ

3.198

3.520

909

9

6,7

Anh

1.441

1.245

1.157

49

3

Ấn Độ

978

895

1.093

-5

2,1

Thụy Điển

646

315

2.051

32

1,4

Pháp

539

441

1.222

-2

1,1

Việt Nam

345

518

666

8

0,7

Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy rằng, tương tự như Thụy Điển, Đan Mạch nhập khẩu phần lớn gạo qua các nước trung gian đầu mối tại EU. Các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam là Pakistan, Thái Lan, Ấn Độ, và Campuchia.

Trong đó, tăng trưởng nhập khẩu từ Ấn Độ giảm do cạnh tranh với Pakistan đối với gạo Bastima, và tăng trưởng nhập khẩu từ Campuchia giảm do bị áp thuế tự vệ trong 3 năm 2019-2021 và cạnh tranh với gạo Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế từ EVFTA.

Tại thị trường Đan Mạch, thị phần của Pakistan tăng, chiếm thị phần gạo Bastima của Ấn Độ. Ở phân khúc gạo Jasmine, thị phần của Việt Nam tăng, trong khi thị phần của Thái Lan giảm cũng do giá gạo Việt Nam rẻ hơn nhiều cộng thêm được hưởng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA.

So sánh giá gạo nhập khẩu tại Đan Mạch

Đơn vị tính: USD/tấn

Na Uy

Các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam tại Na Uy

Nguồn: ITC

Đối thủ cạnh tranh

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2016-2020

(%)

Thị phần

tại Thụy Điển

(%)

Tổng

41 . 057

32 . 214

1 . 275

8

100

Thái Lan

15.735

11.975

1.314

10

38.3

Pakistan

5.021

4.071

1.233

35

12.2

Ý

4.641

3.652

1.271

6

11.3

Ấn Độ

3.964

2.414

1.642

-4

9.7

Việt Nam

3 . 733

4 . 247

879

20

9.1

Hà Lan

2.364

1.306

1.810

103

5.8

Mỹ

1.677

1.354

1.239

5

4.1

Tây Ban Nha

1.489

1.559

955

-3

3.6

Đức

502

363

1.383

6

1.2

Ba Lan

458

285

1.607

-19

1.1

Séc

403

128

3.148

16

1

Campuchia

242

211

1147

-33

0.6

Cũng như các nước Bắc Âu khác, Na Uy nhập khẩu phần lớn gạo qua các nước trung gian đầu mối tại EU. Các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam là Thái Lan, Pakistan, Ấn Độ, và Campuchia.

Trong đó, tăng trưởng nhập khẩu từ Ấn Độ giảm do cạnh tranh với Pakistan đối với gạo Bastima, và tăng trưởng nhập khẩu từ Campuchia giảm do bị áp thuế tự vệ trong 3 năm 2019-2021 và cạnh tranh với gạo Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế từ EVFTA. Gạo Thái Lan có mức tăng trưởng khá tốt.

Trong các nước cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam, mức thuế trung bình 11,9% là như nhau với Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, và Việt Nam. Chỉ có Campuchia được hưởng ưu đãi với mức thuế 0%.

So sánh giá gạo nhập khẩu tại Na Uy

Đơn vị tính: USD/tấn

Đối thủ cạnh tranh

Kim ngạch NK 2020 (nghìn USD)

Số lượng NK năm 2020

(tấn)

Giá

trung bình

(USD/tấn)

Tăng trưởng 2016-2020

(%)

Thị phần

tại Bắc Âu

(%)

Tổng

186.523

148.718

1 .208

8

100

Thái Lan

31.202

24.521

1.257

5

16,7

Ý

25.791

21.803

1.237

9

13,8

Pakistan

23.187

19.049

1.247

26

12,4

Ba Lan

18.395

15.365

1.332

3

9,9

Hà Lan

17.481

11.265

1.562

51

9,4

Bỉ

15.160

11.634

1.192

7

8,1

Ấn Độ

10.651

8.296

1.293

-7

5,7

Đức

10.572

7.314

1.423

2,7

5,6

Campuchia

7.529

7.783

1030

-11

4,0

Việt Nam

5.821

7.353

740

54

3,1

Các đối thủ cạnh tranh chính

Ấn Độ

Ấn Độ là một trong những nhà cung cấp gạo chính cho châu Âu, trong đó có Bắc Âu, và đặc biệt là gạo đặc sản. Gạo lứt basmati được miễn thuế nhập khẩu ở châu Âu, nhưng đồng thời Ấn Độ phải vật lộn với các yêu cầu ngày càng cao.

Ấn Độ vẫn cạnh tranh trong suốt năm 2020 bất chấp các vấn đề hậu cần do đại dịch COVID-19. Châu Âu nhập khẩu 217.000 tấn gạo lứt từ Ấn Độ và 139.000 tấn gạo xay xát. Tuy nhiên, khu vực Bắc Âu nhập khẩu chủ yếu gạo xay xát, nhập khẩu gạo lứt không đáng kể. Lượng nhập khẩu từ Ấn Độ tương ứng là 8.296 và 226 tấn tương ứng từ Ấn Độ.

Gạo Ấn Độ được nhập khẩu vào châu Âu gần đây ít hơn nhiều so với trước năm 2018. Các nhà sản xuất Ấn Độ đã không thể nhanh chóng thích ứng với giới hạn dư lượng tối đa mới của EU (MRL) đối với Tricyclazole, được Ủy ban châu Âu đưa ra vào năm 2017 đối với gạo basmati. Do tiêu chuẩn khắt khe này của EU, thị phần gạo basmati đã chuyển từ Ấn Độ sang Pakistan. Riêng ở khu vực Bắc Âu, gạo nhập khẩu từ Ấn Độ đã giảm trung bình 7%/năm trong giai đoạn 2016-2020.

Nhờ những nỗ lực của Bộ Nông nghiệp Ấn Độ và cải thiện các hoạt động nông nghiệp, Ấn Độ được kỳ vọng sẽ lấy lại thị trường gạo basmati ở châu Âu nói chung và Bắc Âu nói riêng. Ấn Độ cũng đã đăng ký Chỉ dẫn địa lý được bảo vệ (PGI) cho basmati ở châu Âu, tuyên bố tính độc quyền của thương hiệu basmati ở châu Âu. Yêu sách đã bị tranh chấp bởi Pakistan, nhà sản xuất gạo basmati lớn khác.

Thế mạnh chính của Ấn Độ trên thị trường gạo là năng lực sản xuất lớn và nhiều loại giống mà nước này có thể sản xuất. Sự hợp tác lâu dài giữa Ấn Độ và Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) đã tạo ra các giống lúa cải tiến và sản xuất lúa năng suất cao, đảm bảo an ninh lương thực của Ấn Độ cũng như đưa nước này trở thành một nhà sản xuất cạnh tranh. Nhưng với sự đa dạng của lúa bản địa hiện đang có nguy cơ bị đe dọa, các tổ chức như Sahaja Samrudha, một hiệp hội nông dân hữu cơ, đã có sáng kiến ​​để bảo tồn các giống lúa truyền thống. Chiến dịch “Cứu lúa gạo của chúng ta” có sự tham gia của 2.000 nông dân trồng lúa và người chăn nuôi, nỗ lực bảo tồn hơn 400 giống lúa thơm, giống chịu được thuốc, lũ lụt, nước mặn và lúa cạn.

Pakistan

Pakistan đã có một bước tiến lớn trong việc cung cấp gạo cho thị trường châu Âu nói chung và Bắc Âu nói riêng. Ở khu vực Bắc Âu, Pakistan hiện cung cấp gấp gần 2,5 lần khối lượng basmati nếu so với Ấn Độ. Cũng giống như Ấn Độ, basmati của Pakistan được hưởng lợi từ chính sách thuế nhập khẩu bằng không ở châu Âu.

Trong khi Ấn Độ mất một phần thị phần ở Bắc Âu, xuất khẩu của Pakistan sang khu vực này đã tăng đáng kể. Tăng trưởng nhập khẩu gạo từ Pakistan đã tăng trung bình 26%/năm trong giai đoạn 2016-2020. Tricyclazole không được sử dụng trên cây trồng 'super basmati' của Pakistan, điều này đã mang lại lợi thế cho nước này so với các nhà cung cấp basmati của Ấn Độ khi xuất khẩu sang châu Âu.

Super basmati là một loại gạo thơm hạt cực dài được phát triển từ cây lai giữa basmati 370 và basmati 320, có khả năng tăng năng suất gần như gấp đôi so với basmati 370. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), "super basmati" vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Pakistan.

Thái Lan

Thái Lan là một nước lớn trong thương mại gạo chất lượng cao, mặc dù trong những năm gần đây, nước này đã mất đi rất nhiều khả năng cạnh tranh. Nhưng Thái Lan cũng là nhà cung cấp gạo thơm chính, đặc biệt là gạo hương lài (Thai Hom Mali) cho thị trường Bắc Âu.

Ngành công nghiệp lúa gạo của Thái Lan được tổ chức tương đối tốt, cho phép sản xuất lúa gạo quy mô lớn. Ngoài ra, còn có các tiêu chuẩn gạo khác nhau.

Theo Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan (TREA), gạo thơm Hom Mali chiếm gần 21% tổng lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan vào năm 2020, đạt tổng cộng 5,7 triệu tấn. Năm 2016 và 2017, Thai Hom Mali đã được trao giải nhất trong cuộc thi Gạo ngon nhất thế giới trong Hội nghị gạo thế giới. Gạo xay xát và gạo đồ lần lượt chiếm 39% và 25%. Thái Lan xuất khẩu gần 200.000 tấn gạo xay xát sang châu Âu vào năm 2020, trong đó sang Bắc Âu là 25.521 tấn. Gạo thơm và gạo đã xay xát là những sản phẩm xuất khẩu chính của Thái Lan sang Bắc Âu. Tăng trưởng nhập khẩu gạo của Thái Lan tại Bắc Âu trung bình 5%/năm trong giai đoạn 2016-2020.

Giá gạo Thái Lan đã tăng đáng kể trong vài năm qua do nguồn cung khan hiếm và đồng tiền được định giá cao. Điều này đã khiến Thái Lan rơi vào thế kém cạnh tranh hơn. Giá gạo jasmine của Thái Lan cao hơn hẳn nếu so với jasmine của Việt Nam và Campuchia, 1.257 USD/tấn của Thái Lan so với giá 1.030 và 740 tương ứng của Campuchia và Việt Nam.

Tuy nhiên, xuất khẩu gạo xay xát từ Thái Lan sang thị trường Bắc Âu vẫn chiếm ưu thế và gấp hơn 3 lần Việt Nam và Campuchia, nhiều khả năng là nhờ xuất khẩu gạo đặc sản và do thói quen của người tiêu dùng. Nước này đã duy trì vị thế tốt hơn trên thị trường gạo đặc sản so với thị trường gạo thông thường, do người mua có nhiều lựa chọn hạn chế trong việc tìm nguồn cung cấp các nhãn hiệu thích hợp hoặc các loại gạo thơm tương tự từ các nước khác. Ngoài gạo jasmine, Thái Lan cũng là nhà cung cấp gạo đỏ và gạo đen Thái Lan. Một số loại gạo cũng được bán với tên gọi "gạo Thái Lan".

Campuchia

Campuchia có nhiều tiềm năng về gạo thơm và gạo hảo hạng. Campuchia có thể đáp ứng nhu cầu đối với cả gạo đặc sản và gạo phân khúc cao cấp.

Trong thập kỷ qua, Campuchia đã phát triển đáng kể ngành công nghiệp lúa gạo của mình, với tất cả mọi thứ từ lựa chọn hạt giống được cải tiến đến các nhà máy tự động hóa cao. Năm 2020, 82% kim ngạch xuất khẩu là gạo thơm. Campuchia được biết đến với loại gạo jasmine cao cấp được trồng trong mùa mưa, chẳng hạn như “Phka Rumduol”, nhưng cũng có nguồn cung cấp gạo trắng thông thường có tính cạnh tranh. Điều này đã biến Campuchia trở thành một nguồn hấp dẫn đối với người mua Bắc Âu.

Điều đã cản trở sự tăng trưởng trong vài năm qua là điều kiện thời tiết khó lường (hạn hán), cạnh tranh về giá với các nước láng giềng và khả năng lưu trữ hạn chế. Khi xuất khẩu sang EU, quốc gia này được hưởng lợi từ chương trình Mọi thứ trừ vũ khí (EBA), loại bỏ thuế quan và hạn ngạch đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu ngoại trừ vũ khí và đạn dược. Nhưng các nhà sản xuất gạo Campuchia cũng bắt đầu cạnh tranh với các nhà sản xuất gạo tại châu Âu. Do đó, EU đã áp thuế tự vệ tạm thời đối với một số loại gạo xay xát nhập khẩu từ Campuchia và Myanmar: 175 euro/tấn vào năm 2019, 150 euro/tấn vào năm 2020 và 125 euro/tấn vào năm 2021 đối với gạo Indica đã xay xát thuộc mã CN 1006 30 27, 1006 30 48, 1006 30 67 và 1006 30 98. Tuy nhiên, từ năm 2022, việc gạo Campuchia tiếp tục được hưởng thuế 0% sẽ là một đối thủ cạnh tranh với các nước xuất khẩu gạo khác, trong đó có Việt Nam.

Myanmar

Thị trường châu Âu đã mở cửa cho gạo Myanmar. Tương tự như Campuchia, Myanmar đã bắt đầu phát triển trở thành nhà cung cấp cho châu Âu, nhưng với mức giá thấp hơn. Myanmar có tiềm năng tăng thương mại gạo đặc sản, mặc dù đây là phân khúc còn kém phát triển.

Một trong những loại gạo đặc sản được đánh giá cao ở Myanmar là Paw San (‘Paw hsan hmwe’), một loại gạo thơm được cung cấp bởi Rice Myanmar Limited. Hương thơm của nó tương tự như gạo jasmine và nó có độ mềm sau khi nấu tương tự gạo basmati. Tuy nhiên, do sản lượng thấp nên nó không thành công trên thị trường quốc tế. Thay vào đó, Myanmar đã tập trung vào nguồn cung cấp gạo cạnh tranh về giá.

Trong thời gian gần đây, những thách thức chính đối với Myanmar là lệnh áp thuế tự vệ của EU đối với gạo Myanmar tương tự như Campuchia, hạn chế về hậu cần do đại dịch COVID-19, và cuộc đảo chính quân sự năm 2021. Tình hình chính trị cũng có thể là một lý do để người mua Bắc Âu tránh Myanmar. Nhưng nếu Myanmar tiếp tục phát triển nguồn cung cấp chất lượng với nhiều loại gạo đặc sản hơn thì Myanmar có thể trở thành một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ đối với các nước sản xuất khác trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

Thuận lợi, khó khăn, và khuyến nghị

Thuận lợi

Về chất lượng gạo Việt Nam: cùng với sự đầu tư, cải tiến dây chuyền công nghệ xay xát, chế biến cũng như chủng loại gạo, chất lượng gạo Việt Nam đang ngày càng được nâng cao và được cộng đồng người tiêu dùng tại khu vực Bắc Âu đánh giá khá cao về chất lượng.

Về lợi thế cạnh tranh: Trước đây, gạo Campuchia được hưởng thuế 0% trong khi gạo Việt Nam bị đánh thuế cao. Tuy nhiên, kể từ năm 2019, gạo Campuchia bị Hội đồng EU áp thuế tự vệ kéo dài trong 3 năm từ năm 2019 đến hết 2021, cộng với Hiệp định EVFTA, gạo Việt Nam đã thay thế một phần gạo Campuchia tại thị trường này. Mặc dù thị phần vẫn còn rất nhỏ nhưng đây cũng là dấu hiệu tích cực cho thấy gạo Việt Nam bắt đầu xâm nhập được vào thị trường Bắc Âu và dần được người tiêu dùng nơi đây chấp nhận.

Ngoài ra, bên cạnh gạo hương lài, giống ST25 đã đăng ký của Việt Nam được vinh danh là Gạo ngon nhất thế giới năm 2019. Trên Tạp chí Đầu tư Việt Nam, nhà lai tạo ông Hồ Quang Cua cho rằng thành công của giống ST25 là nhờ mùi thơm của lá dứa và hương thơm của cốm non. Về mặt thương mại, ST25 chưa được phổ biến rộng rãi, nhưng thành công của nó cho thấy Việt Nam có khả năng cạnh tranh với Thái Lan và Campuchia trong phân khúc gạo thơm cao cấp. Và nhờ có ST25, gạo Việt Nam được biết đến nhiều hơn tại thị trường Bắc Âu.

Khó khăn

Mặc dù hạn ngạch EU cấp cho Việt Nam quá nhỏ so với sản lượng gạo của Việt Nam nhưng hạn ngạch này dành cho các loại gạo đúng chủng loại và được sản xuất theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt để phù hợp với các yêu cầu của EU và được Bộ Nông nghiệp xác nhận, nên không dễ dàng cho các doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế bằng 0%.

Thị trường gạo của các nước Bắc Âu nói chung đã nhỏ, gạo Việt Nam nằm trong phân khúc thị trường phục vụ cho người tiêu dùng Á châu lại còn nhỏ hơn nữa, thêm cạnh tranh với Thái Lan đã có chỗ đứng vững chắc là một khó khăn cho doanh nghiệp mới tham gia thị trường của Việt Nam. Bắt đầu từ năm 2022, gạo Campuchia tiếp tục được hưởng thuế 0%. Những năm trước đây, gạo Việt Nam gần như vắng bóng trên thị trường các nước này. Do vậy, để thay đổi thói quen tiêu dùng của người mua chuyển từ gạo Thái Lan, Campuchia sang gạo Việt Nam khá khó khăn. Đặc biệt, người Bắc Âu có thói quen tiêu dùng rất kiên định và khó thay đổi trong thời gian ngắn.

Cũng do phân khúc thị trường quá nhỏ nên nhiều doanh nghiệp Bắc Âu chọn việc nhập khẩu gạo Việt Nam qua các đầu mối trung gian lớn tại Đức, Bỉ, Hà Lan, Ba Lan.

Một khó khăn nữa là trong thời gian vừa qua, khi doanh nghiệp bắt đầu quen với việc nhập khẩu gạo Việt Nam thì tình hình Covid làm cho giá vận chuyển container tăng lên gấp nhiều lần. Việc tăng giá vận chuyển là khó khăn chung của thế giới không chỉ ở Việt Nam. Tuy nhiên, giá tăng cao nhưng việc thu xếp container vận chuyển từ Việt Nam sang khu vực Bắc Âu đặc biệt khó khăn nên một số doanh nghiệp tạm thời quay lại nhập khẩu gạo Campuchia, Thái Lan để đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Theo phản ánh của một số doanh nghiệp nhập khẩu gạo, giá container từ 1.600-2.000 USD trước đây đã tăng lên 10.000-12.000 USD, thậm chí 16.000 USD mà vẫn không thu xếp được.

Tình hình vận chuyển càng thêm khó khăn hơn khi cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine xảy ra, các nước cấm vận lẫn nhau, trong đó có cấm vận đường bay và vận chuyển hàng hóa.

Khuyến nghị

Cũng như khuyến nghị đối với các mặt hàng nông sản khác, muốn xuất khẩu gạo vào thị trường Bắc Âu, doanh nghiệp cần lưu ý các điểm dưới đây.

Tuân thủ các qui định bắt buộc của thị trường

Các doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý muốn vào thị trường Bắc Âu, ngoài việc cung cấp đúng sản phẩm còn phải tuân thủ rất nhiều các qui định của thị trường. Các doanh nghiệp cần:

Đáp ứng các yêu cầu bổ sung

Ngoài các yêu cầu bắt buộc của thị trường có thể được hiểu là yêu cầu tối thiểu, các yêu cầu của người mua cũng cần phải được thảo luận và tuân thủ.

Xu hướng sản xuất và kinh doanh bền vững và có trách nhiệm hơn ngày càng được quan tâm. Xu hướng này liên quan đến nhiều khía cạnh trong chuỗi cung ứng, bao gồm điều kiện làm việc, sử dụng nước, quản lý chất thải... Sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được người mua Bắc Âu chấp nhận nếu tuân thủ các sáng kiến ​​bền vững.

Một số các lưu ý khi xuất khẩu gạo vào thị trường Bắc Âu:

Thị trường ngách

Thị trường gạo Bắc Âu khá nhỏ. Ngoài việc cạnh tranh các loại gạo thông thường với Thái Lan và Campuchia, các doanh nghiệp cũng nên tìm hiểu thị trường ngách, đối với những loại gạo có ít cạnh tranh hơn. Ví dụ, trong thời gian vừa qua, Thương vụ đã thành công trong việc bước đầu đưa gạo Japonica vào thị trường Thụy Điển.

Hiện nay, doanh nghiệp khu vực này thường mua gạo Japonica từ các nước trồng gạo trong khu vực EU như Tây Ban Nha, Ý, hoặc nhập khẩu từ Nhật Bản, Hoa Kỳ. Tuy nhiên, gạo Japonica Việt Nam chất lượng không thua kém gạo cùng loại của Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Ý nhưng giá chỉ từ 1/3-1/2. Do vậy, khi được giới thiệu và nhập khẩu thử, các doanh nghiệp đều hào hứng với loại gạo này của Việt Nam.

Hiệp định EVFTA công nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa lý với một số loại gạo của Việt Nam. Gạo ST24, ST25 được giải thưởng gạo ngon thế giới. Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu đưa các loại gạo này vào thị trường Bắc Âu với thương hiệu Gạo đặc sản Việt Nam.

Ngoài ra, doanh nghiệp cố gắng tạo ra nhiều loại sản phẩm độc đáo, kết hợp một giống lúa độc đáo với các phương pháp sản xuất hữu cơ, bền vững và tác động đến kinh tế xã hội. Đồng thời nhận thức rằng thị trường cho loại gạo đặc sản này còn rất nhỏ và đòi hỏi nhiều nỗ lực.

Gạo đặc sản có chứng nhận hữu cơ hoặc thương mại công bằng cũng sẽ làm tăng giá trị sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường Bắc Âu.

Kiểm tra xem địa điểm sản xuất lúa gạo có những lợi thế cụ thể để sản xuất gạo thơm hoặc đặc sản, chẳng hạn như khí hậu hoặc thổ nhưỡng. Điều kiện địa phương có thể khiến sản phẩm trở thành gạo đặc sản và kể những câu chuyện gắn với sản phẩm.

Các khuyến nghị khác

Cập nhật những diễn biến trong thương mại gạo thông qua các trang tin tức như Rice News Today và World-grain.com.

Tham gia các hội chợ thương mại ở Châu Âu như SIAL, Anuga hoặc Biofach để tìm khách hàng tiềm năng. Các doanh nghiệp Bắc Âu cũng hay tham gia các hội chợ này để tìm kiếm nguồn cung gạo.

Tìm hỗ trợ tài chính để quảng bá sản phẩm và mở rộng sang thị trường Bắc Âu, chẳng hạn như thông qua các tổ chức phi chính phủ làm việc với các cộng đồng để tạo ra thương hiệu thương mại công bằng hoặc thông qua các nhà đầu tư có tác động xã hội như Okio Credit, Triodos hoặc Truvalu.

Tài liệu tham khảo

  1. CBI panel discussion Opportunities in specialty rice
  2. Cơ sở dữ liệu thương mại của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC)
  3. Số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam
  4. Thị trường thực phẩm hữu cơ của Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển
  5. Một số quy định nhập khẩu hàng nông sản và thực phẩm khu vực Bắc Âu của Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển
  6. The European market potential for specialty rice
  7. Entering the European market for specialty rice
  8. Exporting special rice varieties to Europe
  9. Rice and Ethyl alcohol overview
  10. Và một số nguồn thông tin trên internet

Ấn phẩm của Thương vụ

Trang web của Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển, kiêm nhiệm Na Uy, Đan Mạch, Iceland, và Latvia.

  1. Website tiếng Việt
  2. Website tiếng Anh

Sách điện tử của Thương vụ.

  1. Những điều cần biết về thị trường Thụy Điển
  2. Những điều cần biết về thị trường Phần Lan
  3. Những điều cần biết về thị trường Đan Mạch
  4. Những điều cần biết về thị trường Iceland
  5. Những điều cần biết về thị trường Na Uy
  6. Những điều cần biết về thị trường Latvia
  7. Quy định về thị trường cơ bản của các nước Bắc Âu
  8. Một số quy định nhập khẩu hàng nông sản và thực phẩm vào khu vực Bắc Âu
  9. Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp Bắc Âu
  10. Thị trường rau quả tươi Bắc Âu
  11. Thị trường cà phê Bắc Âu
  12. Thị trường thực phẩm hữu cơ Bắc Âu
  13. Thị trường giày dép Bắc Âu
  14. Thị trường nhựa và sản phẩm từ nhựa Bắc Âu
  15. Thị trường gạo Bắc Âu