Tình hình thương mại cà phê của Việt Nam năm 2025
- Kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam với thế giới: 6,14 tỷ USD;
- Thị phần xuất khẩu cà phê của Việt Nam trên thế giới: 8,6%;
- Tốc độ tăng trưởng luỹ kế (2021-2025): 27%;
- Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam: Đức (21,9%); Ý (11,2%); Tây Ban Nha (10,9%); Hoa kỳ (9,3%); Nhật Bản (8,4%); Anh (3,5%);
- Xuất khẩu cà phê sang EU: 3,51 tỷ USD;
- Xuất khẩu cà phê sang các nước Bắc Âu và Latvia: 16,93 triệu USD.
Cam kết về thuế quan của EU đối với cà phê Việt Nam
- 100% số dòng thuế mặt hàng này đã được xóa bỏ kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Quy tắc xuất xứ đối với cà phê trong EVFTA
- Để được hưởng các ưu đãi thuế quan theo EVFTA, cà phê phải có xuất xứ thuần túy, tức là được trồng tại Việt Nam;
- Đối với các chế phẩm từ cà phê: không tái sản xuất lại từ các sản phẩm không xuất xứ trong cùng nhóm với sản phẩm đầu ra; và trọng lượng đường sử dụng trong sản phẩm không được vượt quá 40% trọng lượng sản phẩm.
Một số cam kết khác
Cam kết về TBT/SPS
EVFTA chủ yếu bao gồm các cam kết hợp tác, minh bạch hóa, công nhận lẫn nhau, hậu kiểm trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật (TBT), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS).
EVFTA không có cam kết nào cụ thể liên quan tới các biện pháp TBT, SPS đối với thực phẩm, đồ uống ngoại trừ các cam kết về ghi nhãn hàng hóa (áp dụng chung cho mọi loại sản phẩm, rất quan trọng với nhóm thực phẩm, đồ uống).
Vì vậy, về cơ bản:
- EU và Việt Nam sẽ tiếp tục giữ quyền chủ động trong việc ban hành và áp dụng các biện pháp TBT, SPS (ngoại trừ một số ràng buộc về quy định TBT đối với việc ghi nhãn);
- Có nhiều cơ hội hơn trong việc công nhận tương đương giữa EU và Việt Nam đối với các biện pháp SPS của mỗi bên;
- Việc ban hành và thực thi các biện pháp TBT sẽ được minh bạch hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu.
Ngoài ra, còn một số nội dung mới tạo thuận lợi thương mại cho hai bên:
- Danh sách doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu: mỗi bên thiết lập danh sách các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản, thực phẩm đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm kèm theo mã hàng hóa xuất khẩu để gửi cho bên kia;
- Công nhận tương đương: rút ngắn thời hạn xem xét công nhận tương đương là 3 tháng so với quy định của WTO (6 tháng) kể từ thời điểm nhận được đề nghị;
- Quy định linh hoạt đối với biện pháp SPS do EU ban hành mà Việt Nam khó đáp ứng: Việt Nam được chọn 1 trong 3 giải pháp sau nếu gặp khó khăn trong việc đáp ứng một biện pháp SPS của EU: (i) EU dành cho Việt Nam một khoảng thời gian chuyển đổi để tuân thủ biện pháp SPS này; (ii) Việt Nam đề xuất một biện pháp SPS tương đương và đề nghị EU xem xét công nhận; và (iii) EU dành hỗ trợ kỹ thuật để giúp Việt Nam dần đáp ứng được biện pháp SPS này.
Cam kết về chỉ dẫn địa lý
EU công nhận và bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam, trong đó có cà phê Buôn Mê Thuột.
Cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường Bắc Âu
Việt Nam hiện là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 6,14 tỷ USD, chiếm 8,6% thị phần xuất khẩu toàn cầu, với tốc độ tăng trưởng lũy kế đạt 27% trong giai đoạn 2021 – 2025. Riêng thị trường EU đạt kim ngạch 3,51 tỷ USD trong năm 2025, chiếm 57,1% tổng kim ngạch xuất khẩu khẳng định vai trò là khu vực tiêu thụ cà phê quan trọng nhất của Việt Nam. Thị trường xuất khẩu chủ yếu vẫn tập trung tại châu Âu, trong đó Đức là thị trường lớn nhất, chiếm 21,9% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam, tiếp theo là Ý (11,2%), Tây Ban Nha (10,9%), Hoa Kỳ (9,3%), Nhật Bản (8,4%) và Anh (3,5%).
Tại khu vực Bắc Âu và Latvia, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 16,93 triệu USD, tăng 56,5% so với mức 10,81 triệu USD của năm 2024. Trong đó, Đan Mạch là thị trường lớn nhất với 8,69 triệu USD, tăng 59,4%; Thụy Điển đạt 6,85 triệu USD, tăng 37,6%; Na Uy đạt 1,31 triệu USD, tăng mạnh 254% so với năm trước nhờ nền kim ngạch thấp; Iceland đạt 18 nghìn USD, tăng 125%; trong khi Latvia bắt đầu ghi nhận kim ngạch xuất khẩu khoảng 60 nghìn USD. Mặc dù tốc độ tăng trưởng tích cực, quy mô xuất khẩu của Việt Nam tại khu vực vẫn còn khá khiêm tốn. So với kim ngạch xuất khẩu cà phê sang toàn EU là 3,51 tỷ USD, khu vực Bắc Âu và Latvia mới chỉ chiếm khoảng 0,48%, cho thấy thị trường này vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.
Nhu cầu nhập khẩu cà phê tại Bắc Âu tiếp tục tăng mạnh trong năm 2025. Tổng kim ngạch nhập khẩu của năm thị trường đạt khoảng 1,90 tỷ USD, tăng gần 48% so với năm 2024. Trong đó, Thụy Điển là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 857,67 triệu USD, tiếp theo là Đan Mạch (483,07 triệu USD), Na Uy (405,04 triệu USD), Latvia (122,95 triệu USD) và Iceland (34,75 triệu USD). Tuy nhiên, với kim ngạch xuất khẩu chỉ 16,93 triệu USD, cà phê Việt Nam mới đáp ứng khoảng 0,9% tổng nhu cầu nhập khẩu của khu vực, phản ánh dư địa mở rộng thị phần vẫn còn rất lớn.
Về cạnh tranh, Brazil tiếp tục là đối thủ lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Bắc Âu nhờ lợi thế về sản lượng, chất lượng cà phê Arabica và thương hiệu quốc tế. Năm 2025, Brazil xuất khẩu 307,32 triệu USD sang Thụy Điển, 132,13 triệu USD sang Na Uy và 51,27 triệu USD sang Đan Mạch, cao hơn nhiều lần so với Việt Nam. Bên cạnh đó, Đức giữ vai trò là trung tâm rang xay, chế biến và tái xuất cà phê của châu Âu, với kim ngạch xuất khẩu 90,06 triệu USD vào Thụy Điển, 46,44 triệu USD vào Đan Mạch và 17,6 triệu USD vào Latvia.
Sau 6 năm thực thi EVFTA, xuất khẩu cà phê của Việt Nam vào EU vẫn bộc lộ một số hạn chế. Cơ cấu xuất khẩu vẫn chủ yếu là cà phê nhân xanh, chiếm gần 90% kim ngạch, trong khi tỷ trọng cà phê rang xay, cà phê hòa tan và các sản phẩm có giá trị gia tăng còn thấp. Giá trị gia tăng của ngành vì vậy vẫn phụ thuộc nhiều vào hoạt động rang xay và chế biến tại châu Âu. Bên cạnh đó, cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các nước sản xuất lớn như Brazil, Colombia, Honduras và Uganda, cùng với vai trò trung tâm chế biến và tái xuất của các quốc gia như Đức và Hà Lan, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ về giá mà còn về chất lượng và thương hiệu.