Tình hình thương mại thủy sản của Việt Nam năm 2025
- Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam với thế giới năm 2025: 6,89 tỷ USD;
- Thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trên thế giới: khoảng 4,6%, đứng thứ 6 thế giới;
- Tốc độ tăng trưởng lũy kế (CAGR) 2021-2025: 2%/năm;
- Tăng trưởng năm 2025 so với năm 2024: 15%;
- Các thị trường xuất khẩu chính: Trung Quốc (23,4%); Hoa Kỳ (16,5%); Hàn Quốc (8,6%); Nhật bản (7%); Thái Lan (4%); Úc (3,6%);
- Xuất khẩu thuỷ sản sang EU năm 2025: 706,52 triệu USD;
- Xuất khẩu thuỷ sản sang các nước Bắc Âu và Latvia năm 2025: 73,17 triệu USD.
Cam kết EVFTA về thuế quan đối với ngành thủy sản
EVFTA cam kết dành ưu đãi thuế nhập khẩu cho hàng thủy sản của Việt Nam như sau:
- Xóa bỏ ngay khoảng 50% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, trong đó phần lớn các sản phẩm thuế cao từ 6-22% được xóa bỏ về 0% như hàu, điệp, mực, bạch tuộc, nghêu, sò, bào ngư chế biến, tôm sú đông lạnh,…
- 50% số dòng thuế còn lại, thuế suất cơ sở từ 5,5-26%, được cắt giảm về 0% theo lộ trình 3-7 năm, như sản phẩm tôm, cá tra, cá ngừ,…
- Riêng mặt hàng cá ngừ đóng hộp và Surimi (cá viên) áp dụng hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn/năm và 500 tấn/năm.
Lộ trình cắt giảm thuế đối với một số sản phẩm chính của Việt Nam
| Mặt hàng | Lộ trình giảm thuế |
| Tôm | HS03 (shrimp & prawn): EIF hoặc lộ trình 3, 5 năm
HS16: 7 năm |
| Cá tra | Lộ trình 3 năm, trừ cá hun khói là 7 năm |
| Cá ngừ | HS03: EIF
HS16: TRQ với cá ngừ đóng hộp (11.500 tấn), 7 năm với thăn cá ngừ (loin) |
| Cua | Lộ trình 3 năm |
| Mực, bạch tuộc | EIF hoặc lộ trình 3 năm |
| Thủy sản khác | TRQ với surimi (HS1604.20.05)
Lộ trình 3-7 năm với các sản phẩm còn lại |
Tôm
- Ngay khi EVFTA có hiệu lực, thuế xuất khẩu một số mặt hàng tôm Việt Nam sang EU về 0%:
+ Tôm mã HS 03061100 (tôm hùm xanh ướp đá; tôm sú HOSO, DP đông lạnh; tôm sắt PD tươi đông lạnh; tôm mũ ni vỏ, nguyên con, xẻ đông lạnh…) từ mức hiện tại 12,5%;
+ Tôm mã HS 03061710 (tôm sú PD đông lạnh, tôm sú nguyên con HOSO đông lạnh, tôm sú tươi đông lạnh, tôm sú thịt đông lạnh, tôm sú HLSO tươi đông lạnh, tôm sú đông IQF, tôm thẻ thịt đông lạnh…) từ mức hiện tại 20%;
+ Tôm mã HS 03061791, 03061792, 03061793, 03061799 từ mức 12% hiện tại.
- Sau 5 năm: tôm mã HS 03061794 sẽ giảm về 0% từ 18%;
- Sau 7 năm: tôm mã HS 16052110 (tôm dạng bột nhão) và tôm mã HS 16052190 (tôm khác) sẽ được điều chỉnh từ mức 20% về 0%.
Cá ngừ
- EU xóa bỏ thuế quan cho các sản phẩm cá ngừ tươi sống và đông lạnh (trừ thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS0304) ngay khi hiệp định có hiệu lực;
- Đối với các sản phẩm thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS030487, EU sẽ xóa bỏ thuế quan cho Việt Nam theo lộ trình 3 năm, từ mức thuế cơ bản 18%;
- Với các sản phẩm thăn/philê cá ngừ hấp (nguyên liệu để sản xuất cá ngừ đóng hộp), EU sẽ xóa bỏ thuế quan cho Việt Nam theo lộ trình 7 năm, từ mức thuế cơ bản 24%;
- Riêng đối với các sản phẩm cá ngừ chế biến đóng hộp (như cá ngừ ngâm dầu đóng hộp, đóng túi, các sản phẩm cá thuộc họ cá ngừ đóng hộp…), EU miễn thuế cho Việt Nam trong mức hạn ngạch 11.500 tấn/năm.
Biểu thuế thủy sản trong EVFTA
Danh mục 220 mặt hàng thủy sản được xóa bỏ thuế ngay khi EVFTA có hiệu lực
Cam kết EVFTA về quy tắc xuất xứ đối với ngành thủy sản
Để được hưởng mức thuế ưu đãi như trong Hiệp định EVFTA đã cam kết, các sản phẩm thủy sản phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ.
Tiêu chí xuất xứ đối với thủy sản nguyên liệu và thủy sản chế biến trong EVFTA là xuất xứ thuần túy. Tức là thủy sản phải được sinh ra hoặc lớn lên tại một nước thành viên thuộc Hiệp định EVFTA.
Bên cạnh đó, theo quy tắc cộng gộp, Việt Nam được phép sử dụng mực và bạch tuộc nguyên liệu từ các nước ASEAN để sản xuất mực và bạch tuộc chế biến xuất khẩu sang EU, nếu thỏa mãn điều kiện:
- Nguyên liệu này thuộc mã HS 030741 hoặc 030751 (Phụ lục III – Nghị định thư 1) sử dụng để sản xuất các sản phẩm có mã HS 160554 và 160555 (Phụ lục IV – Nghị định thư 1);
- Nguyên liệu có xuất xứ từ các nước ASEAN có FTA với EU cam kết tuân thủ các quy định tại Nghị định thư 1 và có hợp tác hành chính cần thiết với EU để bảo đảm việc thực thi đầy đủ Nghị định thư 1 này với EU và giữa họ với nhau.
Các tiêu chí trên được coi là linh hoạt hơn so với GSP.
Cam kết về TBT, SPS
EVFTA chủ yếu bao gồm các cam kết chung hợp tác, minh bạch hóa trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật (TBT), để có thể xuất khẩu vào EU, hàng hóa phải tuân thủ các nguyên tắc TBT trong quá trình chế biến, đóng gói sản phẩm và bảo vệ môi trường.
EVFTA bao gồm các cam kết về thực thi các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) đối với hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp. Ngoài ra có thêm cam kết về biện pháp SPS khẩn cấp gắn với các dịch bệnh và cam kết về giới hạn phạm vi địa lý của dịch bệnh.
EVFTA có một Chương riêng về thương mại và phát triển bền vững, với các cam kết về lao động, về môi trường, kinh doanh và quản lý bền vững các nguồn hải sản sống và sản phẩm nuôi trồng thủy sản; cam kết hợp tác chặt chẽ trong vấn đề IUU; cam kết hợp tác, trao đổi thông tin về các vấn đề liên quan tới việc kiểm soát, giám sát, thực thi các biện pháp quản lý đánh bắt hản sản.
Như vậy, mặc dù nhiều dòng thuế đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam về 0%, nhưng việc Việt Nam bị áp dụng thẻ vàng với khai thác hải sản từ năm 2018 cũng có tác động bất lợi đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần áp dụng linh hoạt, trung thực quy tắc xuất xứ, chú trọng quy định, tiêu chuẩn về lao động, môi trường,… để thúc đẩy xuất khẩu hàng thủy sản sang EU.
Cơ hội tại thị trường Bắc Âu và Latvia
Theo số liệu của Trung tâm Thương mại quốc tế ITC, năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đạt 6,89 tỷ USD trong đó xuất khẩu sang EU đạt 706,52 triệu USD. Xuất khẩu sang các nước Bắc Âu và Latvia đạt 73,17 triệu USD chiếm 0,7% thị phần tổng lượng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam và chiếm 10,3% lượng xuất khẩu thuỷ sản vào EU.
Hàng năm, các nước Bắc Âu và Latvia nhập khẩu lượng thuỷ sản khá lớn và liên tục tăng qua các năm. Tăng trưởng nhập khẩu thuỷ sản trong vòng 5 năm qua đạt trung bình khoảng 4-6%/năm. Các nước Bắc Âu và Latvia chủ yếu nhập khẩu các nhóm sản phẩm: cá tươi hoặc ướp lạnh trừ phi-lê với giá trị nhập khẩu đạt 5,7 tỷ USD, chiếm 59% tổng lượng nhập khẩu; Cá phi-lê cá và các loại thịt cá khác, ướp lạnh hoặc đông lạnh giá trị nhập khẩu đạt 2,1 tỷ USD, chiếm 21,6% tổng lượng nhập khẩu; Cá chế biến thô bao gồm cá khô, cá ướp muối, hun khói đạt 0,4 tỷ USD, chiếm 4,1% tổng lượng nhập khẩu; Tôm và các loài giáp xác khác đạt khoảng 688 triệu USD, chiếm 0,6%.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các nước Bắc Âu và Latvia tăng đáng kể lên 73,17 triệu USD so với mức 59,3 triệu USD năm 2021. Việt Nam có vị thế cạnh tranh khá tốt tại khu vực này, xuất khẩu sang Đan Mạch đạt 24,62 triệu USD, Na Uy đạt 23,03 triệu USD và Thụy Điển đạt 22,56 triệu USD, đây là ba thị trường nhập khẩu lớn nhất. So với Trung Quốc, thủy sản Việt Nam chiếm ưu thế tại Na Uy, Đan Mạch và Latvia, với kim ngạch lần lượt đạt 23,03 triệu USD, 24,62 triệu USD và 1,9 triệu USD, cao hơn so với Trung Quốc với kim ngạch xuất khẩu vào ba thị trường này lần lượt là 19,66 triệu USD, 13,65 triệu USD và 1,46 triệu USD. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn duy trì lợi thế vượt trội tại Thụy Điển với kim ngạch 61,4 triệu USD, gần gấp ba lần Việt Nam. Kết quả này cho thấy EVFTA đã phát huy hiệu quả trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam tại thị trường EU thông qua ưu đãi thuế quan, đặc biệt tại Đan Mạch, Thụy Điển và Latvia. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là đối thủ lớn trong lĩnhvực thuỷ sản của ta tại khu vực này với tổng giá trị xuất khẩu đạt 99,14 triệu USD.
Hiệp định EVFTA đã tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể cho thủy sản Việt Nam tại thị trường EU nói chung và các nước Bắc Âu, Latvia nói riêng thông qua việc cắt giảm mạnh thuế nhập khẩu, giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị phần so với các đối thủ cạnh tranh châu Á. Lợi thế này chủ yếu đến từ ưu đãi thuế quan của EVFTA. Tôm sú đông lạnh của Việt Nam được giảm thuế từ mức GSP 4,2% xuống 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; tôm chân trắng đông lạnh được xóa bỏ thuế theo lộ trình 5 năm. Trong khi đó, Thái Lan và Ecuador vẫn chịu mức thuế MFN khoảng 12%, còn Ấn Độ và Indonesia chỉ được hưởng mức thuế GSP khoảng 4,2%. Đối với cá tra đông lạnh, thuế nhập khẩu được cắt giảm về 0% sau 3 năm, trong khi Indonesia vẫn chịu thuế GSP 5,5% và Trung Quốc chịu thuế MFN khoảng 9%. Nhờ đó, thủy sản Việt Nam đã nâng cao đáng kể khả năng cạnh tranh về giá và mở rộng thị phần tại thị trường Bắc Âu.
Tuy nhiên, lợi thế này có thể giảm dần trong những năm tới khi Indonesia hoàn tất Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện với Liên minh châu Âu (IEU-CEPA). Sau gần một thập kỷ đàm phán, hai bên đã kết thúc đàm phán vào năm 2025 và đang thúc đẩy quá trình phê chuẩn để Hiệp định sớm có hiệu lực. Khi đó, nhiều mặt hàng thủy sản của Indonesia, đặc biệt là tôm và cá ngừ, sẽ được hưởng ưu đãi thuế tương tự Việt Nam, làm thu hẹp khoảng cách về chi phí xuất khẩu vào EU. Với lợi thế về nguồn nguyên liệu phong phú, quy mô nuôi trồng lớn và chi phí sản xuất cạnh tranh, Indonesia sẽ trở thành đối thủ trực tiếp của Việt Nam tại thị trường Bắc Âu.
So sánh thuế nhập khẩu thủy sản vào EU của một số đối thủ cạnh tranh
(Danh mục cắt giảm thuế và so sánh thuế nhập khẩu của một số đối thủ cạnh tranh do Hiệp hội Sản xuất và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam tổng hợp)